Đăng bởi: trungdung | Tháng Tư 19, 2008

Chim Đỗ Quyên và chim Tinh Vệ


Lê Phạm Trung Dung


Mỗi lần nhớ về đất nước Việt Nam mến yêu ,xa cách nghìn trùng,chúng ta không khỏi bùi ngùi ,xúc động khi đọc hai câu thơ trong bài

“Qua Đèo Ngang”
của bà Huyện Thanh Quan.

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Con quốc quốc và cái gia gia có ý nghĩa gì?
Đỗ Quyên là một loại chim còn gọi là Tử Quy hay nôm na là chim Cuốc. Đầu mỏ chim hơi cong,miệng to,đuôi dài,lông lưng màu tro,bụng trắng có một đường đen thẳng ngang.Thường lủi trong bụi rậm,dưới ao sâu hoặc hồ rộng.Cuối Xuân sang Hè thì bắt đầu kêu vào đêm trăng mờ tịch mịch ở nông thôn.Giọng kêu buồn thảm,gợi lòng khách lữ thứ nhớ nhà ,nhớ quê hương.Truyền thuyết,Thục Đế,vua nước Thục tên Đỗ Vũ thông dâm với vợ của bầy tôi là Biết Linh.Tức giận ,Biết Linh dấy loạn ,đem quân đánh phá kinh thành ,Thục Đế thất bại,mất ngôi chạy trốn vô rừng.Nhục nhã,buồn tủi,nhớ ngai vàng,nhớ nước,Thục Đế chết hóa thành chim Đỗ Quyên ngày đêm kêu “cuốc,cuốc” hay “quốc,quốc”.Quốc,quốc do mượn âm cuốc,cuốc.

Đời nhà Thương(Ân),vua Trụ ác bạo,vua Võ hội chư hầu đem quân điếu phạt.Bá Di và Thúc Tề,con vua chư hầu Cô Trúc đến trước đầu ngựa vua Võ can ngăn cho rằng bất trung,bất nghĩa.Sau khi vua Võ thắng lợi thành lập nhà Châu,Bá Di,Thúc Tề vào rừng núi ở,thề không ăn gạo nhà Châu,chỉ hái rau Vi mà ăn.Sau có người bảo đất nước thuộc về nhà Châu,như vậy rau cỏ cũng thuộc về nhà Châu.Uất ức .hai ông nhịn đói chết.Tương truyền hai ông hóa thành chim Đa Đa(thuộc loại gà ít bay thường hay lủi trong bụi rậm)vì vẫn luôn luôn miệng kêu “Bất thực túc Châu gia” ra “ gia gia” theo lối tá âm.

Bài “Qua Đèo Ngang” và “Thăng Long Thành Hoài Cổ” là hai bài thơ nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan.Đặc biệt bài “Qua Đèo Ngang” có màu sắc Triết học Phật giáo và rất Thiền.

Sáu câu thơ đầu

1.Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
2.Cỏ cây chen đá,lá chen hoa

3.Lom khom dưới núi tiều vài chú
4.Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
5.Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
6.Thương nhà mỏi miêng cái gia gia

Đây tượng trưng cho Diệu Hữu: sự hiện hữu nhiệm mầu.Hai câu chót

7.Dừng chân đứng lại ,trời non nước
8.Một mảnh tình riêng ta với ta.

Đây tượng trưng cho Chân Không.Bài thơ trên biểu hiện triết lý CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU của Phật Giáo.Dưới cái nhìn của Thiền Tông,sáu câu đầu diễn tả tâm còn vướng vào cảnh vật bên ngoài,bị lôi cuốn theo sáu trần.Hai câu chót dừng tâm vọng tưởng,trở về với con người chân thật của chính mình.Đúng là Thiền

Thi ca cổ điển Việt Nam thường dùng nhiều điển tích về hai loại chim Đỗ Quyên và chim Đa Đa nầy.

Trần Danh Án ,một di thần nhà Hậu Lê (1423-1788) nghe tiếng cuốc kêu cũng cảm xúc nhớ lại một triều đại hưng thịnh mà cuối cùng vua Lê Chiêu Thống cỏng rắn cắn gà nhà ,tuy yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc đành phải gói ghém tâm sự di thần trong mấy vần thơ sau đây

1.Giá cô tại Giang Nam
2.Đỗ Quyên tại Giang Bắc
3.Gía cô minh gia gia
4.Đỗ quyên minh quốc quốc.
5.Vi cầm do hữu quốc gia thanh
6.Cô thần đối thử tình vô cực

Bản dịch

1.Chim giá cô ở bờ sông Nam
2.Chim Đỗ Quyên ở bờ sông Bắc
3.Giá cô kêu gia gia
4.Đỗ Quyên kêu quốc quốc
5.Chim nhỏ còn kêu tiếng nước nhà
6.Cô thần đối cảnh tình man mác

Chu Mạnh Trinh bất giác sinh lòng hoài cổ khi đứng trước thành Cổ Loa ,xưa kia đã là cung miếu của vua Thục An Dương Vương Cung miếu ngày xưa huy hoàng ,tráng lệ bao nhiêu thì ngày nay điêu tàn,hoang phế bấy nhiêu.Trong cảnh vắng vẻ ,lạnh lùng nầy,dưới ánh trăng mờ nhạt tiếng cuốc khắc khoải năm canh vọng lên buồn bã:

Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu,
Đỗ Quyên đề đoạn ,nguyệt âm âm”

Cung miếu triều xưa đây vắng ngắt
Trăng mờ khắc khoải cuốc kêu thâu”,

Nhưng tiếng cuốc của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến mới là tiếng cuốc thấm thía,bi ai,là tiếng nói của lòng một người dân yêu nước bị mất nước- vì thực dân Pháp -.Tiếng cuốc đó còn nói lên nỗi đau buồn,uất hận vì bất lực trước cảnh đen tối của đất nước bị ngoại xâm.Và đó cũng là tiếng nói của lương tâm thôi thúc Yên Đổ tham gia vào cuộc chiến đấu chung của dân tộc

Khắc khoái sầu đưa giọng lững lơ

Ấy hồn Thục Đế thác bao giờ

Năm canh máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn ta bóng nguyệt mờ

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?

Ban đêm ròng rã kêu ai đó

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”

Tiếng cuốc kêu gợi khách tha hương nhớ về cố hương còn được diễn tả bằng tiếng đàn ảo não trong bài thơ “Cầm Sắt” của thi hào Lý Thương Ẩn đời vãn Đường

“ Cầm sắt vô đoan ngũ thập huyền

Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên

Trang Sinh hiểu mộng mê Hồ Điệp

Thục Đế xuân tâm thác Đỗ Quyên

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ

Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên

Thử tình khả đãi thành truy ức

Chỉ thị đương thời dĩ vãng niên”

Bài Dịch

1.Cầm sắt năm mươi chẵn sợi mành
2.Mỗi dây,một trụ nhớ ngày xanh
3.Mơ màng bướm lẫn Trang Sinh mộng
4.Áo não quyên kêu Thục Đế tình
5.Thương hải lệ châu trăng chiếu suốt
6.Lam Điền hơi ngọc nắng hun thành

7.Tình nầy đợi nhớ trong mai hậu
8.Chán nản giờ đây khổ nỗi mình

Câu 3:tiếng đàn có âm điệu mơ màng,lãng lãng như một giấc mộng đến nỗi Trang Tử không biết mình hóa làm bướm hay bướm hóa làm minh

Câu 4:tiếng đàn có âm điệu não nuột,ai cảm như nỗi uất hận của vua Thục nhớ nước nhớ nhà

Câu 5:tiếng đàn đến đây thì trong trẻo như ánh trăng vằng vặc chiếu xuống biển xanh qua suốt lớp nước sâu đến những hạt châu long lanh như đẫm lệ

Câu 6:tiếng đàn cuối cùng với âm điệu nồng nàn,ấm áp như ánh nắng nhẹ ,êm ả chiếu xuống núi Lam Điền khiến cho ngọc quý nơi đây bốc hơi lên

Vì cuộc đời của Thúy Kiều ,nhân vật chinh trong Kim Vân Kiều phải trải qua bốn giai đoạn khác nhau: mơ màng,ảo não,trong trẻo và ấm áp nên Nguyễn Du đã mượn ý câu 3,4,5,6 trong bài Cầm Sắt của Lý Thương Ẩn

“Khúc đâu êm ái xuân tình

Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên

Trong sao châu rỏ duềnh quyên

Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông”

Duềnh:vũng nước.
Lam Điền
:núi sản xuất ngọc quý ,ngọc lam ở Thiểm Tây.Quyên::xinh đẹp

Trang Sinh hiểu mộng mê Hồ Điệp:Thúy Kiều sống mơ màng huyền ảo với hương vị mối tình đầu cùng Kim Trọng Đôi trai tài gái sắc nầy lúc trao kỷ vật,cắt tóc thề nguyền,lúc đề thơ hội họa ,lúc đánh đàn tuy thời gian ngắn ngủi nhưng đã xây nhiều mộng đẹp

Thục Đế xuân tâm thác Đỗ Quyên:nỗi uất hận của vua Thục nhớ nước nhớ nhà gởi vào tiếng nấc nghẹn ngào,thảm não của Thúy Kiều khi lưu lạc,nhớ quê,nhớ cảnh,nhớ cha mẹ,người yêu,sống trong kiếp đọa đày vùi hoa dập liẽu.

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ:Tấm thân tài sắc và lòng trinh trắng của Thúy Kiều chìm sâu dưới sông Tiền Đường đế rửa sạch hết bụi trần nhơ và để rồi sống cuộc đời thanh u,nhàn nhã dưới cửa thiền bên cạnh ni cô Giác Duyên

Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên:Cái ấm áp nồng nàn ,thắm thiết,thi vị khi Thúy Kiều đoàn tụ với gia đình,gặp lại người yêu,nối lại khúc tình xưa.Ngọc lên hơi thoang thoảng như ái tình lên hương thấm thía đậm đà

Trong tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” ,Bùi Hữu Nghĩa có dùng điển cố chim Đỗ Quyên và chim Tinh Vệ trong đoạn “Giải Thị tuẫn tiết theo chồng

“ Oan kết theo hồn Tinh Vệ

Lụy rơi hóa huyết Đỗ Quyên

Minh mông sóng thảm bủa đầu thuyền

Lai láng gió sầu xao mặt nước”

Chim Tinh Vệ là một loại chim nhỏ ở bờ biển hình giống chim quạ ,chân đỏ ,mỏ trắng.Theo chuyện xưa bên Trung Hoa,con gái vua Viêm Đế đi thuyền trên biển Đông.Chẳng may ,gặp cơn bảo dữ dội,thuyền bị chìm và nàng chết đuối.Vì uất ức hóa thành chim Tinh Vệ bay tới bay lui,miệng ngậm đá núi Tây đến biển Đông ,để nhả đá như muốn lấp biển Đông cho thỏa nỗi căm hờn bất tận Vì thế có câu Tinh Vệ Hàm Thạch

Giản Thị là vợ của Thiết Đình Quí ,tri phủ phủ Tây An(Thiểm Tây)bị tướng giặc Tiêu Hóa Long bắt sống.Sau khi nhắn tin cho vợ đang mang thai hãy cố gắng nhịn nhục nuôi con ,nhảy xuống sông tự tử.Sau khi con khôn lớn,Giản Thị lập mưu giết được tướng giặc, lấy đầu tế chồng rồi cũng đâm đầu xuống sông tuẩn tiét.

Cụ Phan Bội Châu có câu đối ai điếu khi cụ Phan Chu Trinh mất

“Thương Hải vi điền,Tinh Vệ hàm thạch

Chung Kỳ ký một,Bá Nha đoạn huyền”

“Biển thẳm chưa bằng,Tinh Vệ còn ngậm đá,Chung Kỳ đã mất,Bá Nha đứt dây đàn”

Căm hờn chế độ thực dân,nước mất nhà tan,chưa san bằng chế độ thuộc địa,chưa giải phóng đất nước,nhà cách mệnh họ Phan vẫn kiên trì tranh đấu như chim Tinh Vệ ngậm đá quyết lấp biển Đông cho thỏa mối căm hờn.

Đức quốc, trước kia thua kém rất xa Anh quốc và Pháp quốc về Văn hóa ,khoa học,kỹ thuật.Nhưng từ khi Goethe xuất hiện trên văn đàn Đức quốc như ngôi sao Bắc Đẩu,văn học,nghệ thuật,âm nhạc,khoa học kỹ thuật Đức quốc trăm hoa đua nở và qua mặt lại Pháp quốc và Anh quốc.Thi sĩ Schiller chỉ nói một câu đơn giản”Sie sprechen eine schöne sprache” (*) không cần phải nói cầu kỳ như một học giả Việt Nam “Truyện Kiều còn ,tiếng Việt còn” (**).Thơ của Schiller đã được Beethoven đem vào trong bài symphonie thứ chin lừng danh , phần hợp xướng..Không biết bao giờ Việt Nam mới có được một nhân vật như Goethe đưa dân tộc đi đôi hia bảy dặm theo kịp trào lưu tiến hóa của thế giới về Văn học,khoa học,kỹ thuật ? Tôi tin chắc chắn sẽ có trong đám thế hệ mấy em cháu. tuy xa quê hương nhưng trong lòng vẫn còn giử trái tim Việt Nam.Tôi rất lạc quan vì sau nhiều năm dài sống xa quê hương,Thiền Tông đời Trần như vua Trần Thái Tông,vua Trần Nhân Tông nhất là ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã khơi lại mạch máu trong tôi.Rồi sẽ có một ngày Việt Nam sẽ ngóc đầu lên như nước Đức bên trời Âu.

Lê Phạm Trung Dung

____________________________

(*) ”Sie sprechen eine schöne sprache”:: Anh nói một ngôn ngữ hay
(**) Phạm Quỳnh (1892-1945) – Báo Nam Phong thời Tây thuộc địa

About these ads

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 75 other followers

%d bloggers like this: