Đăng bởi: dathuynh | Tháng Một 10, 2008

Thư của Lê Phạm Trung Dung


Thư của Lê Phạm Trung Dung gởi tới Huỳnh Tuấn Đạt

Montréal 30 Décembre 2008,
Mến thăm Đạt,

Sáng nay dọn tuyết trước sân nhà thì nhận được thư của Đạt. Mặc dầu ảnh hưởng nhà kiếng trên toàn cầu nhưng tháng 12 năm nay, Montréal đã hứng 2 trận bảo tuyết kỹ lục 40 cm, 60 cm; ngoài đường tuyết che lấp hết xe hơi. Washington không xa Montréal mấy, thời tiết chắc không khác Montréal bao nhiêu.

Nhớ năm 73 mùa hè về VN bị bót cảnh sát ở đường Trần Quang Khải tịch thu giấy tờ nên phải nhờ Đạt vô lảnh giấy tờ ra. Đã 34 năm trôi qua, lang thang trên xứ người, tôi may mắn không dính vào quân đội không bị đi tù. Nhưng sống ở Nhật, cuộc đời cũng bị dập tơi bời hoa lá vì Nhật là nước gốc Phát Xít theo chủ nghĩa quân quốc, ái quốc cực đoan.

Qua Canada gặp lại những người đi tù cả chục năm, nhưng qua Canada một thời gian họ vẩn có thể làm lại cuộc đời còn tôi thì khó khăn mặc dầu sống ở Québec vùng nói tiếng Pháp không có khó khăn gì đối với tôi. Những năm sống ở Nhật đã biến tôi thành con rùa rút đầu, con đà điểu rút đầu trong cát. Tôi rất ngại tiếp xúc với mọi người, nhưng đối với anh chị em ở Les Lauriers tôi vẩn giữ những kỹ niệm khó quên trong cuộc đời. Tôi lúc nào cũng nhớ Vương Thế Anh, Bì Vĩnh Long, Bì Vĩnh Tuấn, Nguyễn Công Tứ Hải, Nguyễn Hữu Danh I, Danh II, Buì Hửu Chiến, Buì Hửu Đấu, Buì Thanh Toán với người anh mà tôi quên tên (Buì Thanh Tuyến?), Tôn Thất Thành, Thắng với người em, Bình (méo), Lộc đen, Năm (lửa), Lê Minh Huệ (đạo Cao Đài)… Còn mấy chị tôi vẩn nhớ Nguyễn Bích Thuỷ, Thanh Thuỷ (người Huế) ở cạnh nhà Giao xóm bà Tư; Giao có ông già làm Đại Tá Công Binh đi xe Vespa. Công Huyền Tôn Nữ Đông Phố nhà ở gần bệnh viện Cơ Đốc, Trinh (em gái của Tôn Thất Thành), Hường, Oanh (ở xóm bà Tư), Anh Thư, Thuỷ Tiên, Giáng Ngọc ở đường Huyền Quang bên cạnh trường Mệnh Mẫu; Đổ Thanh Sơn nước da hơi ngâm, miệng móm duyên, Thanh Châu ở đường Lý Trần Quán, Diễm (đi học được ông anh chở đi trên xe mobyclette).

Tôi vẩn còn nhớ hai câu thơ đầu bài thơ Noel của Oanh, hớt tóc ngắn, thường dùng lọ mực tím:

“Nữa đêm đi lễ về
Em ăn réveillon”

Và một bài đoản văn của Thuỷ Tiên nói về bà Nội. Thuỷ Tiên viết văn rất cãm động khi mất bà Nội. Hai chị em Thạch Thị Hòa, Thạch Lương Bằng (người Bắc). Hiếu đã đổi 2 câu ca dao:

“Vào vườn hái trái cau xanh
Bổ ra làm bốn mời cô xơi cùng”

thành 2 câu thơ tết Trung Thu:

“Vào nhà lấy bánh Trung Thu
Bổ ra làm bốn mời cô xơi cùng”

bị thầy Đàn chửi cho một trận.

Buì Thanh Toán thường giởn với 4 câu thơ trong Lục Vân Tiên:

“Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai
Chẳng hay con gái nhà ai
Đi đâu đến nổi mang tai bất kỳ”

 

Đến lúc trã bài cho thầy Đàn, Toán luôn miệng đọc luôn: Đi đâu đến nổi mang thai bất kỳ; bị thầy Đàn chửi tơi bời hoa lá.

Nguyễn Công Tứ Hai và 2 anh em Thắng thường trốn học, đạp xe ra xa lộ Biên Hòa ngồi câu cá. Tôn Thất Thành trưỡng thành sớm nhất trong số anh em, Thành thường đem hình … truyền tay cho anh em coi; anh em chui xuống gầm bàn lén coi cười khúc khích, chọc giận thầy Đàn.

Tôi nhớ hình … của nữ tài tữ …, nhà ở gần trường Đức Minh với dòng chữ tặng cho tài tữ … : “Tặng anh để kỹ niệm những ngày chung sống bên nhau”. Khoãng 10 năm trước, tôi có gặp ông ta ở Montréal, ông đi môtô khắp Bắc Mỹ tới những nơi có người Việt tị nạn sinh sống, bán sách do ông viết.

Lê Minh Huệ thường cho sấm giảng của đạo Cao Đài; hôm qua có vào web thấy Huệ chỉ nói vấn đề nhậu làm tôi hơi ngạc nhiên.

Từ lâu tôi có nghe phong phanh Nguyễn Công Tứ Hải, 2 anh em Chiến, Đấu đã qua đời. Đọc thư Đạt trên web mới biết Bình méo đã mất. Chiến, Đấu thường chỉ tôi cách nuôi gà và trồng cây trứng cá trước cữa nhà; sau chặt cây trứng cá trồng cây mận của nhà Đạt, chưa thấy cây mận lớn tôi đã qua Nhật. Trên bụng tôi còn có vết thẹo do hàng kẽm gai cây mận nhà Đạt để lại.

Trên web, tôi đọc địa chĩ Phạm Trung Kiên do Vương Thế Anh tìm trên Google; tôi sẽ liên lạc thử. Kiên có thư và gởi hình cho tôi năm 73, sau 75 mất liên lạc.

Còn việc thành lập web, các bạn có thể học hỏi kinh nghiệm của bạn bè học bên Nhật của tôi. Trang web ERCT gồm cả ngàn cựu sinh viên. Tất cả tin tức, sinh hoạt ở trang web nầy. Tuy đông nhưng có khi người đứng đầu mạng muốn bỏ vì quá mệt mõi, nhưng cũng sống còn hơn 5 năm.

Tuy ít tiếp xúc với mọi người, nhưng Tết Tây 2006, tôi mượn máy mấy đứa cháu, tôi đã bổ túc danh sách cựu sinh viên cả trăm người, kéo theo những người khác bổ túc theo làm trang web ERCT sống lại. Đến nổi trang danh sách cựu sinh viên phải đóng lại; chỉ gởi cho người nào là cựu sinh viên được xác nhận vì người ngoài vô đọc lén đời tư sinh viên quá nhiều. Khác với Canada, sinh viên bên Nhật rất kỵ cho người khác biết mình tốt nghiệp trường đại học nào tức là giữa sinh viên đã có chia rẽ ngay từ năm đầu đại học.

Mỗi lần nghe bài Sonata Piano bất hủ của MOZART: “Tuy ngắn nhưng hãy cháy thật to thật bự” là tôi nhớ ngay tới Danh I nhà ở đường Phan Thanh Giản thường ngâm câu thơ của Tố Hửu:

“Thà một chút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn là le lói suốt trăm năm”.

Ngô Minh Trí thì lập gia đình và có con sớm. Mỹ Lệ có chồng ở bên Pháp và đã không còn ở Montréal từ lâu rồi. Từ lúc qua Canada, tôi chỉ gặp Mỹ Lệ và Bì Vĩnh Phúc là em của Bì Vĩnh Long, Bì Vĩnh Tuấn, nhà bán vàng ở ngã tư Đa Kao.

Lá thư nầy viết cho cá nhân Đạt, Đạt có thể phổ biến trên web vì tôi có nhắc đến nhiều kỹ niệm thời trung học, hy vọng sẽ làm sống lại những gì đả mất trong lòng anh chị em từ lâu, và nhất là tôi là người xa xứ lâu năm lúc nào cũng nhớ về anh chị em bạn học củ.

Phạm Việt Cường với tôi thường hay làm thơ. Còn Phạm Việt Dũng có hoa tay vẽ đẹp nên cô Oanh rất thương. Nguyễn Tiên Nghĩa thì lập dị và thường mặc đồ đen. Có lần cô Tú Anh hỏi thì hầu hết anh chị em trả lời ghét chiến tranh, chỉ có Tiên Nghĩa trả lời là thích chiến tranh. Nghe nói Tiên Nghĩa sau nầy qua Tunisie du học theo người anh là Nguyễn Tiên Hưng.

Mùa hè vừa rồi, em gái thứ sáu có về VN, xóm Lý Trần Quán thay đổi nhiều. Nghe cô em nói người Huế ở nhiều nên đi đâu cũng nghe muì nấu bún bò Huế. Có thăm chị em Anh Thư, tôi không nhận ra Anh Thư, còn chị Oanh (chị Anh Thư) học trên tuị mình một lớp thì tôi vẩn còn nhận ra được.

Tôi tu thiền, gát bỏ những phiền toái của cuộc đời nên ít xài computer; không có địa chỉ email nên Đạt và các bạn có thể liên lạc với tôi qua:

Le Pham Trung Dung
11806 O’Brien Blvd
,
Montréal, Quebec
H471Y8
TEL: (514)856-0114

Sang năm, chắc tôi phải có computer để liên lạc với bạn bè. Thời đại bây giờ computer, Internet phổ biến khắp trái đất, không có không được. Mấy bạn học bên Nhật thường nói với tôi: “Mầy không xài computer, vô Internet là mầy chết nữa đời người.”

Hôm nay viết thơ cho Đạt, tôi hy vọng sẽ là cái mốc cho con rùa rút đầu ra khõi cổ, cho con đà điểu không còn dấu đầu trong cát nữa.

Hy vọng bạn bè củ ở Les Lauriers thấu hiểu tâm trạng của tôi, đóng góp một tay cho trang web Les Lauriers.

Tôi xin dứt thư bằng 2 câu thơ chót trong bài “Ông Đồ Già” của Vũ Đình Liên:

“Những người muôn năm củ
Hồn ở đâu bây giờ.”

Hai câu thơ Đường, Tản Đà dịch rất hay cho người xa xứ như chúng ta:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

(Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu)

 

 

 


Advertisements

Categories

%d bloggers like this: