Đăng bởi: trungdung | Tháng Tám 20, 2009

Đa Kao :Trung Tâm Văn Hóa


Lê  Phạm Trung Dung sưu tầm

ĐaKao : Một Trung Tâm Văn Hóa

Lâm Vĩnh Thế

Vùng Đakao thuộc Quận của thủ đô Sài Gòn. Trong thời Pháp thuộc, vùng nầy có tên là Đất H. Tuy hiện nay chưa có những tài liệu nghiên cứu nghiêm chnh và có hệ thống về lịch sử của vùng đất nầy khiến ta không rõ về nguồn gốc của địa danh nhưng có thể khẳng định đây là một trong những vùng đất được khai thác từ lâu đời nhất của Saigon, có lẻ đã trên một trăm năm.


Một bằng chứng cụ thể là Chùa Ngọc Hoàng, ở đường Phạm Đăng Hưng, theo sách “Saigon Năm Xưa” của cố học giả Vương Hồng Sển, nguyên Giám Đốc Viện Bảo Tàng Saigon, đã được xây cất từ năm 1905. Điều nầy có thể giải thích phần nào do vị trí nằm sát Rạch Thị Nghè, một nhánh của Sông Saigon, một trục giao thông quan trọng, nhất là trong giai đoạn mới bắt đầu khai thác của thực dân Pháp.  Với vị thế là một vùng đất xưa, Đakao đã có đời sống văn hóa khá đậm nét về nhiều mặt. Điều đặc biệt cần lưu ý là khu Đakao, so với phần lớn những khu vực khác trong thành phố Saigon, có  mật độ rất cao về cơ sở văn hóa.

Các Cơ  Sở Giáo Dục

Trước hết xin nói về các cơ sở của Bộ Giáo Dục. Hầu hết các bộ phận đầu não đều tọa lạc trong khu Đakao. Trụ sở của Bộ Giáo Dục, với các bộ phận trực thuộc như Nha Du Học, Nha Kế Hoạch, đều nằm tại khu vực ngả tư Lê Thánh Tôn và Hai Bà Trưng. Hai bộ phận khác cũng rất quan trọng là Tổng Nha Trung, Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, và Nha Khảo Thí đều tọa lạc tại đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, đối diện với Sở Thú. Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ thì được đặt tại đường Mạc Đĩnh Chi, đối diện với Nha Khí Tượng. Ty Tiểu Học Saigon thì nằm trong khuôn viên của Trường Nữ Tiểu Học Đakao, trên đường Phan Đình Phùng, đối diện với Phòng Thí Nghiệm Vi Trùng Học. Về các trường đại học, sau cuộc đão chánh 1-11-1963, thành Cộng Hòa, nơi đồn trú của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, đã được biến thành trụ sở của hai trường Văn Khoa và Dược Khoa. Về sau Trường Nông Lâm Súc cũng được đưa về đây luôn. Hai Trường Luật Khoa, nằm trên đường Duy Tân, và Kiến Trúc, nằm gần ngả tư Duy Tân và Phan Đình Phùng, cũng như trụ sở của Viện Đại Học Saigon, nằm ngay tại Công Trường Chiến Sĩ (bây giờ dân chúng Saigon thường gọi là Hồ Con Rùa), bên cạnh trường Luật Khoa, cũng có thể xem là thuộc khu Đakao. Về các trường trung học công lập, thì phải kể ngay đến trường nam Võ Trường Toản, và trường nữ Trưng Vương, nằm ngay bên cạnh Tổng Nha Trung, Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục. Trong thời Pháp thuộc, tại địa điểm nầy là Ecole Normale (Trường Sư Phạm) đào tạo giáo viên tiểu học cho cả Nam Kỳ. Cả hai trường Võ Trường Toản và Trưng Vương đều là trường trung học đệ nhị cấp (bây giờ là trường phổ thông cấp ba), dạy đến lớp đệ nhứt, tức là lớp đi thi bằng cấp Tú Tài II. Ngoài ra, tại đường Hồng Thập Tự, ngó ngay ra ngả ba với đường Phùng Khắc Khoan, từ thập niên 60 trở đi, ta còn thấy có trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.  Trường nầy chỉ là trường trung học đệ nhất cấp mà thôi. Về các trường trung học tư thục, thì khu Đakao tập trung phần lớn các trường nổi tiếng của Saigon. Vào đầu thập niên 50, khi chương trình Pháp vẩn còn được giảng dạy song song với chương trình Việt, thì phải kể đến hai trường quan trọng là trường Vương Gia Cần, nằm trong một biệt thự có lầu ở đường Phan Thanh Giản, đối diện với ngả ba Phan Kế Bính, và trường Les Lauriers, ở đường Mạc Đĩnh Chi, giữa ngả ba Phan Thanh Giản và ngả tư Tự Đức, sau dời về đường Đinh Công Tráng, gần ngả ba Lý Trần Quán, và đổi tên là trường Tân Thịnh. Các trường dạy chuyên về chương trình Việt thì quan trọng nhứt phải kể đến trường Huỳnh Khương Ninh, nằm trên đường D’Ariès, gần đầu ngả ba với đường Paulin Vial. Trường nầy có từ rất lâu đời, gồm một dãy nhà hai tầng khang trang, dạy cả tiểu học và trung học, điều hành bởi một ban giám đốc và giảng huấn có khả năng, tận tâm và yêu nghề, và đặc biệt là có tinh thần yêu nước cao. Chính vì thế, trong thời Pháp thuộc, trường nầy đã là mục tiêu theo dõi thường xuyên của mật thám Pháp.  Kế đến là các trường Huỳnh Thị Ngà, ở đường Trần Nhật Duật, và trường Việt Nam Học Đường, ở cuối đường Đặng Tất. Sau thập niên 60, thì có thêm hai trường là trường Văn Hiến, ở đường Trần Quang Khải, gần rạp chớp bóng Văn Hoa, và trường Tân Thanh, ở đường Trần Quý Khoách, sau lưng trường Việt Nam Học Đường. Một trường trung học tư thục nữa ở Đakao là trường Đông Tây Học Đường, nằm ở đường Hai Bà Trưng, đối diện với ngả ba đường Tự Đức. Trường nầy chỉ sống được mấy năm vì ít học sinh và vì kết quả giáo dục tương đối kém nên không cạnh tranh nổi với các trường tư thục khác trong vùng. Ngoài ra cũng phải kể đến trường chuyên dạy Anh ngữ đầu tiên của Saigon là Trường Anh ngữ Trần Gia Độ, nằm trên đường Phạm Đăng Hưng, gần chùa Ngọc Hoàng (về sau là địa điểm của Vỏ đường Nhu đạo của Thượng Tọa Thích Tâm Giác).  Tất cả các trường trung học tư thục nầy, dù nhiều dù ít, đều đã có những đóng góp quan trọng vào việc giáo dục thanh thiếu niên ở cấp trung học trong một thời gian dài, nhất là trong thập niên 50 (trước 1954) vì lúc đó tại Saigon chỉ có một trường trung học công lập duy nhất là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký ở mải tận trong khu Nancy, gần Chợ Lớn. Tất cả học sinh Saigon, sau khi thi đậu bằng Tiểu Học, đều phải trải qua kỳ thi tuyển vào trường Pétrus Ký. Năm 1953 khi tôi tham dự kỳ thi tuyển nầy, trường Pétrus Ký chỉ lấy vào 550 học sinh cho 10 lớp Đệ Thất. Những học sinh rớt kỳ thi tuyển nầy không còn cách nào khác hơn là phải theo học tại các trường trung học tư thục. Về các trường tiểu học công lập, khu Đakao có hai trường, trường nam nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, giữa hai đường Tự Đức và Nguyễn Thành Ý, và trường nữ, nằm trên đường Phan Đình Phùng, cùng một địa điểm với Ty Tiểu Học Saigon. Tôi theo học trường nam suốt bậc tiểu học, cho đến khi thi đậu vào trường Trung Học Pétrus Trương Vĩnh Ký, nên đã có rất nhiều kỹ niệm với ngôi trường nầy. Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm vài điều về giáo dục tiểu học và ngôi trường nầy. Chương trình giáo dục tiểu học lúc đó đã được chuyển ngữ, dùng tiếng Việt giảng dạy, nhưng vẩn còn phải học môn Pháp văn. Tên gọi của các cấp lớp đều dùng cả hai ngôn ngữ: Lớp Năm (nôm na gọi là Lớp Chót) – Cours Enfantin, Lớp Tư – Cours Préparatoire, Lớp Ba – Cours Élementaire, Lớp Nhì – Cours Moyen, Lớp Nhứt – Cours Supérieur, và Lớp Tiếp Liên – Cours Certifié. Về thi cử, hết Lớp Ba thì phải qua một kỳ thi lấy văn bằng Sơ Đẳng Tiểu Học, đậu thì mới được lên Lớp Nhì. Hết Lớp Nhứt thì phải đi thi lấy văn bằng Tiểu Học. Đậu bằng Tiểu Học rồi thì mới được làm đơn xin dự kỳ thi tuyển vào Lớp Đệ Thất của trường Trung Học Pétrus Ký.  Những người thi rớt kỳ thi tuyển nầy, muốn năm sau thi lại, thì xin vào học Lớp Tiếp Liên. Trong thời gian tôi theo học, trường nam Tiểu Học Đakao có 2 lớp cho mổi cấp, trừ cấp Tiếp Liên chỉ có một lớp thôi. Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây. Về các trường tiểu học tư thục, khu Đakao có rất nhiều cơ sở như thế nhưng tôi không còn nhớ được hết, nên chỉ xin kể ra đây những trường tôi còn nhớ được. Trường đầu tiên tôi muốn nói đến là trường Quốc Học, không phải vì nó là trường lớn nhứt hay quan trọng nhứt mà chỉ vì đó là ngôi trường tôi theo học đầu tiên trong đời. Đó là cuối năm 1947, tôi mới được 6 tuổi, mẹ tôi đóng tiền cho tôi vào học Lớp Chót tại trường nầy để chuẩn bị cho tôi năm sau sẽ xin vào trường Tiểu Học Đakao. Ngôi trường nầy nằm ở đường Legrand de la Liraye (sau gọi là đường Phan Thanh Giản), gần ngả tư với đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng), ngay đằng sau tiệm hủ tiếu của người Hoa ở ngả tư nầy. Trường nầy chỉ là mt căn phố và có 3 lớp mà thôi, mt Lớp Chót, mt Lớp Tư và mt Lớp Ba. Tôi theo học tại trường nầy độ 5 hay 6 tháng gì đó mà thôi, đủ để biết đọc, biết viết, và thuộc cữu chương. Sau trường nầy thì phải kể đến các trường nằm trên đường Paul Bert (Trần Quang Khải) mà tôi chỉ còn nhớ tên được một trường mà thôi, đó là trường Lễ Văn (chắc là đặt tên theo câu Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn). Từ cuối thập niên 50 trở đi, mới thấy xuất hiện các trường Mẫu Giáo, và khu Đakao cũng có hai cơ sở lớn và nổi tiếng, đó là Trường Michelet, sau đổi tên là Rạng Đông, ở đường Hiền Vương, gần ngả ba Lý Trần Quán, và Trường Mạnh Mẫu, nằm trong đường Lý Trần Quán.

Các Cơ Sở Tôn Giáo

Song song với cơ sở giáo dục như vừa kể qua ở trên, các cơ sở tôn giáo trong vùng mới chính thật là nét văn hóa đặc thù của khu Đakao.   Trước hết xin nói về các ngôi đình.  Tôi tin rằng trong toàn thành phố Saigon không có khu vực nào có nhiều đình như khu Đakao và tập trung trong một diện tích nhỏ hẹp như vậy.  Nội trên đường Trần Quang Khải thôi đã có đến 4 ngôi đình.  Ở khoảng đầu đường, đi vào từ ngả tư với đường Đinh Tiên Hoàng, bên phải có một ngôi đình mà tôi không còn nhớ tên, ngôi đình nầy bề ngoài trông như một căn phố, không có sân; cách đó chừng mười lăm mét, bên tay trái là ngôi đình lớn nhứt trong toàn khu Đakao, đó là đình Nam Chơn.  Đình nầy có sân rất rộng, có cả một cây đa cổ thụ ngay ở trước, phía bên trong vách tường bằng gạch ở mặt tiền.  Chính dưới bóng mát của cây đa nầy là các bàn hớt tóc mà tôi đã nhiều lần đến hớt tóc lúc còn nhỏ.  Vào bên trong, toà nhà của đình với điện thờ nằm bên tay trái, phần còn lại là một khoảng sân đất rất rộng, đây là nơi dựng rạp khi cúng kỳ yên.  Rạp được dựng lên bằng vải và được sử dụng cho hai việc: ban ngày là nơi để cho khách đến cúng đình ngồi nghỉ uống nước, ghi sổ cúng tiền, và chờ đợi đến phiên mình vào lể khi bên trong điện đã quá chật, ban đêm trở thành rạp hát  trình diển các vở tuồng hát bội.  Sau đình Nam Chơn, ra đến gần ngả ba với đường Nguyễn Phi Khanh, bên tay phải lại có một ngôi đình nhỏ nữa, tôi cũng không nhớ tên ngôi đình nầy, chỉ nhớ ngôi đình nằm bên cạnh một con hẽm nhỏ, và là nơi đóng đô thường trực của một đoàn hát bội nhỏ.  Qua khỏi ngả ba Nguyễn Phi Khanh, tại ngay ngả ba với đường Bà Lê Chân, là đình Phú Hòa, với cửa vào quay ra đường Bà Lê Chân, chính tại đây có quán cà phê của nghệ sĩ cải lương lừng danh Bảy Nhiêu.  Đình Phú Hòa thường được các đoàn cải lương lớn dùng làm nơi tập tuồng mới.

Trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngay ngả ba với đường Huyền Quan, gần ra tới ngả ba với đường Trần Quang Khải, cũng có một ngôi đình lớn là đình Sơn Trà.  Đình nầy chỉ nhỏ hơn đình Nam Chơn thôi, phía trước và dọc theo cạnh đường Huyền Quan là hàng rào cây sống.  Trước mặt tiền của điện thờ cũng là một sân đất lớn và, cũng như đình Nam Chơn, đây là nơi dựng rạp trong các dịp cúng kỳ yên.  Chính tại ngôi đình nầy tôi đã được mẹ tôi cho đi theo để coi những vở tuồng hát bội nổi tiếng của thời đó như tuồng San Hậu, Huê Dung Đạo, Thần Nữ Dưng Ngủ Linh Kỳ, Trãm Trịnh Ân…, với các cô đào hát bội một thời vang bóng như Cô Năm Đồ, Cô Cao Long Ngà … Tôi còn nhớ mãi cái không khí ngột ngạt của các đêm hát bội tại đây.  Rạp bằng vải bố, che không cao lắm, bên trong rạp rất chật, và nóng bức.  Sân khấu bằng gổ cũng không cao lắm, và gần như lúc nào cách bài trí cũng giống nhau, dầu là cảnh nhà dân, nhà quan, hay cung vua, cũng chỉ thấy có một cái bàn với hai cái ghế để ở hai bên, cả bàn và ghế đều có tấm phủ mầu sắc đẹp.  Ngay đưới sân khấu, chỉ có hai hay ba hàng đầu là để ghế, các hàng còn lại toàn là băng gổ.  Ngay trước cái ghế ở chính giữa hàng ghế đầu có để một cái trống lớn, và người ngồi ở cái ghế đó thỉnh thoảng cầm cây chầu đánh vào trống mấy cái thùng thùng.  Về sau lớn lên tôi mới biết đó là một vị chức sắc trong đình có nhiệm vụ “cầm chầu” để làm cái việc đánh giá cách trình diển của các nghệ sĩ trên sân khấu.  Thỉnh thoảng người đi xem cũng tham gia vào việc tán thưởng các nghệ sĩ bằng tiền, họ kẹp tiền vào các cây quạt xếp bằng giấy và liệng quạt lên sân khấu.  Đoàn hát luôn luôn có người phụ trách đi lượm các cây quạt, gở tiền ra và mang quạt không trả lại cho khán giả.Trên đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, ngay ngả tư với đường Tự Đức, là đình Tân An, cũng là nơi đóng quân của một đoàn cải lương nhỏ.  Tôi không có kỹ niệm gì về ngôi đình nầy. Ngoài ra khu Dakao còn cái đình nhỏ nữa.  Đình nầy nằm trong một con hẽm trổ ra gần nơi đường Đinh Tiên Hoàng gặp đường Hiền Vương.  Con hẽm nầy ăn thông ra đến đường Huỳnh Khương Ninh.  Tôi không còn nhớ tên ngôi đình nầy.Như thế là trong một khu vực với diện tích chưa tới một cây số vuông, ta có tất cả 7 ngôi đình.  Nếu tính theo đường chim bay, hai ngôi đình lớn nhứt trong khu Đakao, đình Nam Chơn và đình Sơn Trà, cách nhau chưa tới hai trăm mét.  Hồi còn nhỏ tôi hoàn toàn không nghĩ gì về mật độ tập trung nầy của các ngôi đình trong vùng.  Về sau lớn lên, nhất là tôi lại học về ngành sử, nét văn hóa đặc thù nầy làm tôi thấy thắc mắc nhiều.  Vì thông thường mổi làng chỉ có một ngôi đình mà thôi, làm nơi thờ thành hoàng bổn cảnh .  Làng ở trong Nam lại thông thường có diện tích rất lớn.  Thật khó tin là khu vực nhỏ bé nầy của Đakao, nơi quy tụ bảy ngôi đình nầy, ngày xưa là địa hạt của bảy cái làng.  Nhưng nếu không phải như vậy thì tại sao lại có tới bảy cái đình.  Tôi đã có dự định làm một cuộc nghiên cứu về các ngôi đình nầy để tìm câu trả lời nhưng chưa bao giờ làm được vì nhiều lý do ngoài ý muốn.  Cho đến một hôm vào khoảng cuối năm 1974, rất tình cờ, thắc mắc nầy của tôi đã được giải đáp một phần nào.  Hôm đó tôi đi họp ủy ban tại trụ sở của Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐVHGD) ở đường Trần Quý Khoách mà tôi là một thành viên.  Trong khi chờ họp, tôi ngồi trò chuyện với cụ Đổ Văn Rở, Thứ Trưởng Bộ Văn Hoá Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa,  Phó Chủ Tịch Văn Hóa của HĐVHGD (ở nhiệm kỳ 2 nầy của HĐVHGD, 1974-1977, Chủ Tịch HĐVHGD là Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Phó Chủ Tịch Giáo Dục của Hội Đồng là Giáo Sư Trần Văn Tấn, Khoa Trưởng Đại Học Sư Phạm Saigon).  Tôi không còn nhớ chúng tôi đã khởi đầu câu chuyện như thế nào nhưng sau một hồi thì câu chuyện xoay quanh các ngôi đình của vùng Đakao.  Tôi chợt nhớ lại thắc mắc của mình nên đem vấn đề ra hỏi cụ Rở.  Không suy nghĩ gì cả, cụ nói ngay ý nghĩ của cụ ra cho tôi nghe, và tôi nhận thấy cụ rất có lý, và đây có thể là mấu chốt của vấn đề.  Theo cụ Rở, những người đã dựng lên các ngôi đình nầy là những di dân thuộc các làng chài lưới đánh cá từ miền nam Trung phần vào.  Tiếng địa phương gọi các làng chài nầy là các Vạn.  Vào đây rồi, khi đã ổn định thì họ lập đình để tiếp tục thờ cúng các vị thành hoàng của họ.  Mổi Vạn đều có thành hoàng riêng nên bắt buc họ phải lập đình riêng.  Đó là lý do tại sao có quá nhiều đình trong môt phạm vi nhỏ hẹp như thế.  Cụ Rở đưa ra bằng chứng là ngay tại vùng Đakao nầy có một xóm gọi là Xóm Vạn Chài.  Xóm nầy nằm sát bờ Rạch Thị Nghè, ngay phía sau khu vực trường Văn Hiến và rạp chớp bóng Văn Hoa ở đường Trần Quang Khải sau nầy, gần như đối diện với đình Nam Chơn, và cũng không cách đình Sơn Trà bao xa.  Cho tới thập niên 50, lúc tôi còn nhỏ, xóm nầy vẩn còn mang tên là Xóm Vạn Chài.  Lý luận và bằng chứng cụ Rở đưa ra khá vững, tôi nghĩ là bước kế tiếp cần thực hiện là nghiên cứu các thần sắc (nếu còn) thờ trong các ngôi đình nầy, chắc chắn ta sẽ tìm được gốc tích của những người đầu tiên đã lập ra các ngôi đình nầy.  Trong thâm tâm tôi tin rằng thuyết của cụ Rở là đúng.  Sau các ngôi đình, các cơ sở tôn giáo quan trọng khác của khu Đakao là chùa Cô Hồn ở đường Trần Quang Khải, chùa Ngọc Hoàng ở đường Phạm Đăng Hưng và Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo ở đường Hiền Vương.  Trong ba cơ sở nầy, chùa Ngọc Hoàng là cổ nhứt.  Ngay trong thập niên 50 lúc tôi còn nhỏ thì chùa nầy đã có được nữa thế kỹ rồi.  Chùa Ngọc Hoàng có cơ sở khá lớn, cổng gạch, sân rộng và dài, lối đi lát gạch, bên trong sân có nhiều cây cối.  Vào hết phần sân ngoài rồi là lan can bằng gạch rồi đến phần sân trong hoàn toàn lát gạch, có nhiều cây kiểng, và đặc biệt ở góc bên tay phải có một hồ nhỏ nuôi rùa và cua đinh, mặt hồ hoàn toàn phủ rong xanh, vách và thành hồ bằng đá cũng đầy rong rêu, trông rất cổ kính.  Trước khi vào bên trong chùa, hai bên cửa có hai tượng Ông Thiện và Ông Ác to gần bằng người thật, đứng cầm gươm, màu sắc rực rỡ.  Bên trong chùa lúc nào cũng âm u và khói nhang nghi ngút, thú thật tôi chỉ dám đứng ở ngoài cửa nhìn vào mà thôi, chưa bao giờ tôi dám bước vào bên trong.  Tôi chỉ thích đứng chồm mình vào thành cái hồ ngoài sân để nhìn các chú rùa lâu lâu trồi lên mặt nước để thở.  Chùa Cô Hồn, cách không xa đình Phú Hòa, tuy gọi là chùa nhưng xem có vẻ giống cái đình nhiều hơn, không biết cất từ năm nào, có cổng gạch và sân gạch, về sau dường như có cho thuê phần sân để làm garage sửa xe hơi.  Chùa Cô Hồn thì tôi cũng có khá nhiều kỹ niệm.  Đó là nơi hàng năm vào dịp Rằm Tháng Bảy bọn con nít tụi tôi kéo tới xem cúng cô hồn, xem tượng Ông Tiêu làm bằng hoa lá, với cái lưởi le dài ra, đỏ lòm trông đễ sợ, và cũng để chờ tiết mục hấp dẫn nhứt sau khi chùa cúng xong: đó là màn màn nhào vô giựt bánh trái, giựt tiền trong chùa liệng ra sân (gọi là thí cô hồn).  Bánh trái thì đủ loại, nào chuối, nào khoai, nào đậu phộng nấu, nào bánh cúng, bánh cấp, bánh in, bánh ít.  Còn tiền thì chỉ là bạc cắt, một cắt, hai cắt mà thôi.  Đền thờ Đức Thánh Trần là mới nhứt trong ba cơ sở tôn giáo nầy.  Đền được cất lên sau năm 1954, bên ngoài đường Hiền Vương nhìn vào tưởng như chỉ là một căn phố với cổng sắt cao.  Sau khi vào cổng rồi là một lối đi lát gạch, bề ngang chỉ rộng độ ba mét, dài độ hơn mười mét.  Cuối lối đi nầy khách viếng thăm đền sẽ ngạc nhiên vô cùng khi đối diện với một sân gạch rất rộng nằm xéo qua phía bên tay phải, sân nầy hình chữ nhựt, mổi cạnh dài có đến trên hai mươi mét.  Cuối sân đó là điện thờ, nền lát gạch bông luôn luôn sạch bóng và sơn son thếp vàng rực rỡ.  Hàng năm đến ngày húy của Đức Thánh thì đồng bào đến lể đông vô cùng, bên trong khói nhang nghi ngút và chiêng trống đánh vang rền. Khu Đakao còn một cơ sở tôn giáo nữa, tuy nhỏ nhưng mang nhiều nét độc đáo.  Đó là Miểu Nổi.  Đây là tên của người địa phương đặt cho cơ sở tôn giáo nầy, tên chính thức của nó là gì thì tôi không biết vì chưa bao giờ nghe nói đến.  Đặt tên như thế vì đây là một cái miểu cất trên một cái cù lao nhỏ trên rạch Thị Nghè (rạch Thị Nghè là tên gọi trên bản đồ, người địa phương thì gọi là sông Cầu Bông).  Có thể đến Miểu Nổi bằng hai cách, hoặc theo một con hẽm nhỏ ở đường Trần Quang Khải, đi xuyên qua hết khu xóm Vạn Chài, ra tới tận bờ sông rồi dùng đò qua miểu, hoặc đi xuyên qua trại cưa Trần Pháp, ở dưới dốc Cầu Bông, về phía bên Bà Chiểu, độ hơn 100 mét, ra bờ sông rồi cũng dùng đò qua miểu.  Miểu là nơi thờ một vị Thánh Mẫu, dân trong vùng thường chỉ gọi là Bà, nên cũng có khi người ta gọi cơ sở tôn giáo nầy là Miểu Bà.  Dân chúng trong vùng tin là Bà rất linh thiêng, cầu xin gì cũng được, nên suốt năm lúc nào cũng có đông người đến cúng vái, và vì thế Miểu Nổi lúc nào cũng ở trong tình trạng được chăm sóc, sơn phết tươi tốt. Về phần đạo Thiên Chúa, ngoài hai ngôi thánh đường lớn, tuy không xa khu Đakao, nhưng khó có thể gọi là thuộc khu Đakao, Nhà Thờ Đức Bà Saigon (về sau được Toà Thánh La Mã nâng cấp lên hàng Vương Cung Thánh Đường), và Nhà Thờ Tân Định, còn phải kể đến các cơ sở đào tạo tu sĩ nằm trong khu Đakao.  Đó là Đại Chũng Viện Saigon và nhà Dòng Tu Kín, cả hai cơ sở nầy đều nằm trên đường Cường Để.

Ngoài những cơ sở tôn giáo thuần túy như vừa trình bày ở trên, khu Đakao còn có Đền thờ Quốc Tổ trong Thảo Cầm Viên (người Saigon thường gọi là Sở Thú).  Sau khi vào cổng chính của Thảo Cầm Viên, nhìn sang phía tay phải ta thấy ngay đền thờ Quốc Tổ.  Ngôi đền nầy có kiến trúc rất độc đáo, vuông vức, mổi cạnh khoảng 10 mét, dựng trên một mô đất cao, với mái cong, lợp ngói âm dương rất đẹp.  Mổi phía đều có bậc thềm đá dẩn lên đền, hai bên thềm có lan can hình rồng đúc xi măng và sơn phết rất đẹp.  Ngay trước mặt chính của đền là sân lát gạch, ỡ giữa có một bia đá.  Nhìn từ phía chính diện vào trong đền, bên tay phải, các đền chừng 5 mét có một tượng voi bằng đồng đen, theo bảng đề bên cạnh thì tượng voi nầy là do Vua Cao Miên tặng vào dịp khánh thành Sở Thú.  Chung quanh đền, bốn phía đều có cửa bằng gổ quý.  Đền chỉ mở cửa cho khách viếng vào ngày Chúa Nhựt thôi.  Bên trong đền là điện thờ sắp xếp như trong các ngôi đình, chia làm ba gian, với các giá dựng binh khí bằng đồng bóng loáng.  Hàng năm cứ đến ngày Giổ Tổ Hùng Vương đều có tổ chức lể rất long trọng tại đây.

Các Cơ Sở Văn Hóa Khác

Ngoài các cơ sở giáo dục và tôn giáo vừa kể trên, khu Đakao còn có nhiều cơ sở văn hóa quan trọng khác.

Trước hết, đáng kể nhứt là Thảo Cầm Viên Saigon, tức Sở Thú.  Tọa lạc trên một vùng đất rộng hàng chục mẫu, mặt tiền là đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, một cạnh là đường Hồng Thập Tự, và mặt sau chạy dọc theo rạch Thị Nghè, Sở Thú là một trong những khu giải trí quan trọng của dân chúng Saigon, nhứt là vào ngày Chúa Nhựt.  Sở Thú thời Pháp thuộc gọi là Jardin Botanique (nghĩa là vườn bách thảo), sang thời Cộng Hòa đổi ra tên Việt, gọi là Thảo Cầm Viên, nhưng đối với người dân Saigon thì truớc sau vẩn gọi là Sở Thú. Theo ý kiến riêng của tôi thì cả ba tên gọi nầy, hai tên chính thức, một tên nôm na, đều không diển tả được hết nội dung của khu vườn nầy.  Tên Pháp thì hoàn toàn chỉ nói về cây cối là sai, vì trong vườn có nuôi rất nhiều loại thú khác nhau.  Tên Việt chính thức cũng không hoàn toàn đúng vì chỉ nói đến cây cối và chim, bỏ ra ngoài các loài thú.  Tên Việt nôm na thì chỉ nói tới thú, bỏ qua hết cây cối, bông hoa.  Tuy nhiên phải công nhận một điều là tên Sở Thú có vẻ sát với thực tế nhứt, vì phần đông khách vào Sở Thú là để xem thú nhiều hơn là xem cây cối.  Sau khi vào cổng chính, du khách sẽ thấy ngay trước mặt mình một con đường tráng nhựa rất rộng xe hơi có thể chạy được, chia làm hai đường, một đường để vào, một đường để ra, phần chính giữa còn khá rộng có những bồn hoa đủ màu.  Ngay đầu con đường nầy, bên tay phải là Đền Thờ Quốc Tổ (đã kể ở trên), bên trái là Viện Bảo Tàng Saigon (sẽ nói đến sau).  Con đường nầy chạy dài, thẳng tắp độ 200 mét thì hết, đụng vào con đường chạy dọc theo rạch Thị Nghè.  Ngay tại ngả ba nầy là một sân khấu lộ thiên nhỏ, có tam cấp đi lên, hai bên viền lại bằng các giàn bông giấy đủ màu trắng, đỏ, và tím.  Đây chính là nơi hòa nhạc công cộng vào các ngày lể hay Chúa Nhựt để giúp vui cho du khách.   Ở vào khoảng giữa con đường lớn nầy có một ngả tư.  Con đường cắt ngang, nếu ta rẽ về bên tay phải, sẽ dẩn ta vào khu trung tâm của Sở Thú, nơi có chuồng khỉ, hầm gấu, chuồng chim, két,  và, đặc biệt nhất, là một hồ sen rất lớn, ở giữa có nhà thủy tạ hình bát giác có cầu gổ từ trong bờ đưa ra.  Hồ sen nầy, từ thập niên 60 trở đi có nuôi nhiều cá chép Nhật Bản đủ màu rất đẹp.  Rời khu vực hồ sen ta sẽ đến khu chuồng cọp, sư tử và dã nhân.  Sau đó bọc vòng trở lại bờ sông thì có chuồng voi và nai.  Từ bờ sông gần chuồng voi có một cây cầu lớn dẩn qua khu Thị Nghè.  Chính trên cây cầu nầy đã xảy ra vụ tai nạn làm chết nhiều người trong thời gian Hội Chợ Thị Nghè trong thời Đệ Nhứt Cộng Hòa.  Ngoài các loại thú, Thảo Cầm Viên cũng có trồng nhiều kỳ hoa dị thảo, và có cả một khu nhà kiếng cho các loại phong lan.

Đến Thảo Cầm Viên mà không vào viếng Viện Bảo Tàng sẽ là một điều đáng tiếc.  Viện Bảo Tàng, như đã nói ở trên, nằm ngay bên phía tay trái khi bước vào cổng chính của Sở Thú.  Thời Pháp thuộc Viện Bảo Tàng mang tên Pháp là Musée Blanchard de la Brosse.  Trong thời Cộng Hòa, cố học giả Vương Hồng Sển đã làm Giám Đốc viện trong khoảng 10 năm.  Tôi xin mạn phép mở một dấu ngoặc nhỏ ở đây để ghi lại đôi dòng kỹ niệm về vị thầy khả kính vừa khuất bóng.  Năm thứ hai ở Đại Học Sư Phạm Saigon, niên khóa 1961-1962, anh chị em Ban Sử Địa chúng tôi được may mắn học môn sử Việt Nam với thầy Vương Hồng Sển.  Ngoài việc dạy môn chính khóa nầy, thầy còn kể cho chúng tôi nghe những nghiên cứu của thầy về đồ sứ men lam Huế mà thầy là chuyên gia số một của thế giới.  Tôi còn nhớ mãi hai câu thơ thầy đã ngâm cho chúng tôi nghe khi nói về chiếc dĩa Mai Hạc:

” Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn củ, Hạc là người quen”

Tôi xin được đóng dấu ngoặc lại ở đây.  Xin mời độc giả trở lại Viện Bảo Tàng.  Viện Bảo Tàng là một toà nhà lớn, dài, sơn trắng, xây trên nền cao.  Bên trong chia làm nhiều phòng, mổi phòng dành riêng cho một giai đoạn lịch sử hay một nền văn minh, chủ yếu là các cổ vật của nước ta và các quốc gia trong vùng như Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp.  Đáng chú ý nhứt có lẻ là phòng trưng bày các cổ vật của nền văn minh Óc Eo, đào được tại Long Xuyên trong thập niên 40, đặc biệt là hai đồng tiền cổ La Mã thời Hoàng Đế Marc Aurèle, chứng tỏ Vương Quốc Phù Nam xưa đã có những trao đổi hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp (qua các thương nhân Ả Rập ?) với Đế Quốc La Mã.

Một cơ sở văn hóa quan trọng khác, trong đầu thập niên 60, là Viện Khảo Cổ, cũng nằm ngay trên đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, đối diện với Sở Thú (từ cuối thập niên 60 trở đi Viện Khảo Cổ mới dời về đường Gia Long, đối diện với Bộ Kinh Tế).  Khi tôi học năm thứ nhứt tại Đại Học Sư Phạm Saigon, thầy dạy môn Phương Pháp Sử của chúng tôi là Giáo Sư Trương Bữu Lâm, lúc đó là Giám Đốc Viện Khảo Cổ.  Trong năm học thầy Trương Bữu Lâm tổ chức cho anh chị em sinh viên chúng tôi vào viếng Viện để được nghe thuyết trình về công tác của Viện, và chính tại đây tôi đã được lần đầu tiên nhìn thấy tận mắt một chiếu chỉ của triều Lê Thánh Tôn, lồng kính treo trên tường trong phòng làm việc của thầy.

Ngoài các cơ sở văn hóa quan trọng vừa nêu trên, khu Đakao còn có khá nhiều rạp hát, cả cho bộ môn hát bội, cải lương và chiếu bóng.  Về môn hát bội thì rạp hát chính là những ngôi đình mà tôi đã có kể qua ở phần trên.  Về cải lương thì có rạp Thuận Thành ở đường Paul Bert (Trần Quang Khải, về sau bị phá đi để xây rạp chiếu bóng Văn Hoa) là nơi đóng quân của đoàn Phụng Hảo, và một rạp nữa trên cùng một đường mà tôi không còn nhớ tên và là nơi đóng quân của đoàn Bích Thuận. Về chiếu bóng thì có rạp ASAM và Casino Đakao cùng nằm trên đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng), và rạp Nam Tân trên đường Dr. Angier (Nguyễn Bĩnh Khiêm).  Sang thập niên 60 chỉ còn lại rạp Casino Đakao, sau năm 1975 đổi tên lại gọi là rạp Cầu Bông.

Các Món Ăn Ngon Khu ĐaKao

Nói về văn hóa mà không nói đến các món ăn thì có phần thiếu sót, vì ăn uống cũng là một phần khá quan trọng trong đời sống văn hóa của một dân tộc.

Sau đây tôi xin lược kể ra các món ngon nổi tiếng của khu Đakao.  Trước hết xin kể về các món ăn của người Việt.  Khu Đakao nổi tiếng về các món ăn sau đây: cơm tấm, bánh cuốn, và bánh mì thịt.  Về cơm tấm thì có hai tiệm.  Tiệm thứ nhứt nằm trong đường Nguyễn Phi Khanh, không có bảng hiệu, nhưng khách ăn quen thường gọi là Cơm Tấm Bà Ba Liên, theo tên bà chủ tiệm.  Cơm tấm tiệm nầy ngon nhờ gạo ngon, nấu khéo, hột cơm rời nhưng không khô, bì nhiều thịt ít da và luôn luôn tươi (vì khách ăn tới đâu thì bà chủ mới xắc tới đó), và nước mắm thì pha đậm (lại bằng nước mắm hạng ngon) nên không cần chan nhiều.  Tiệm nầy chỉ bán có hai loại, cơm tấm bì, và cơm tấm bì chả, miếng chả rất ngon vì chắc chớ không bời rời và nhiều thịt cua.  Dĩ nhiên tiệm cũng bán luôn cà phê phin đen và sửa, nhưng cà phê nầy chỉ thuộc loại xoàng.  Tiệm thứ nhì theo tôi nhớ cũng không có bảng hiệu nhưng ai cũng gọi là Cơm Tấm Hiền Vương vì nằm trên đường Hiền Vương, gần tới ngả tư Hai Bà Trưng.  So với tiệm Bà Ba Liên, cơm tấm tiệm nầy không ngon bằng, nhưng không khí và giá cả có vẻ bình dân hơn.  Cơm tấm tiệm nầy thì nhiều loại hơn, cơm tấm bì, cơm tấm bì chả, cơm tấm bì hột gà, cơm tấm bì nem chiên.  Miếng chả tiệm nầy thì thua xa tiệm Bà Ba Liên, vì chỉ có trứng và thịt heo chớ không phải làm bằng thịt cua.  Món ngon của tiệm nầy chính là cơm bì nem chiên, với mấy chiếc nem Lái Thiêu chiên mở vàng ngậy, thơm lừng.  Cà phê tiệm nầy thì uống cũng được mà không uống cũng không có điều gì đáng tiếc.  Về bánh cuốn thì phải nói là rất nổi tiếng, đó là bánh cuốn Tây Hồ.  Hàng bánh cuốn nầy thật ra không có tên, người ta gọi như thế là vì lúc mới ra hàng nầy đặt cơ sở trong sân của Đền thờ Cụ Tây Hồ Phan Châu Trinh ở bên cạnh chợ Đakao.  Sau 1975, cửa hàng dời ra một căn phố nhỏ đường Đinh Tiên Hoàng, gần ngả ba với đường Huỳnh Khương Ninh.  Bánh cuốn Tây Hồ ngon nhờ cuốn ăn liền tại chổ, bột rất mõng, nhưn ngon vì làm bằng thịt heo tươi, trộn nấm mèo và củ hành xắc nhuyễn, nước mắm chanh pha rất loãng nhưng vừa miệng nên có thể chan nhiều.  Về bánh mì thịt thì nổi tiếng nhứt là xe Bánh Mì Bảy Quan, đặt tại ngả ba Đinh Tiên Hoàng và Huỳnh Khương Ninh.  Nét đặc biệt của xe bánh mì nầy là không bán vào buổi sáng, mà chỉ bán vào ban đêm, từ 6 giờ chiều trở đi.  Cái ngon của bánh mì Bảy Quan là một tổng hợp của nhiều đặc điểm:1) bánh mì luôn luôn nóng dòn (do được nướng lại trên cái lò than đằng sau chiếc xe), 2) bánh mì được phết một lớp mõng sauce mayonnaise, 3) sau đó được phết thêm lên trên một lớp ba tê gan, 4) thịt ba chỉ (cun lại, cột chặt bằng dây, và có nhum phẩm đỏ bên ngoài) luôn luôn mới mổi đêm, và 5) kèm theo là đồ chua (củ cải trắng và cà rốt xắc cọng dài và ngâm dấm), dưa leo và mấy cọng ngò tàu tươi xanh.  Về sau nhiều người cũng nhái theo công thức nầy và ra nhiều xe bánh mì khác, cũng có tiếng, nhu Ba Lẹ, Bé Bự, nhưng vẩn không tài nào giựt nổi khách của Bảy Quan.

Về món ăn Tây, thì khu Đakao, như có nói qua trong Phần Thứ Nhứt về các con đường, có khá nhiều nhà hàng cơm Tây khá nổi tiếng, tất cả đều nằm trên đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng).  Nhà hàng lâu đời nhứt trong khu Đakao là nhà hàng Casino Đakao, đối diện với rạp chiếu bóng có cùng tên, và cũng là nhà hàng cơm Tây đầu tiên của cả Saigon có bán Repas Complet với ba món và với một giá tiền nhứt định.  Các món nổi tiếng của nhà hàng nầy là Soupe à l’Oignon, Poulet Marengo, và Homard Thermidor.  Soupe à l’Oignon (súp hành) dựng trong tô lớn bưng ra múc vào dĩa cho khách, rất nóng, thành phần gồm có củ hành tây xắc khoanh và chiên vàng, fromage Gruyère bào nhuyển, và mấy miếng ruột bánh mì, trong một thứ nước súp rau cải ngọt lịm.  Poulet Marengo (Gà Marengo) là một món gà (thường là cái đùi) chiên vàng, thả vào trong một thứ nước sốt rất sệch có pha sửa và có đủ thứ đồ bổi như cà rốt, khoai tây, và cà mấy khoanh bánh mì nữa.  Homard Thermidor (Tôm hùm Thermidor) là món tôm hùm làm bằng thịt tôm hùm trộn với fromage, dồn trở lại vô vỏ tôm, rồi đút lò.  Một nhà hàng cơm Tây khác là Chez Albert thì nổi tiếng với hai món ngon, Salade Russe au Crabe và Chateaubriand.  Salade Russe au Crabe làm bằng các loại cà rốt, khoai tây, đậu Hòa Lan, tất cả xắc vuông nhỏ, trộn sauce mayonnaise và thịt cua, món nầy ăn rất ngon nhưng không ăn nhiều được vì quá béo nên mau ngán.  Chateaubriand là một loại steak cao cấp, làm bằng một miếng thịt bò rất dầy, nhưng rất mềm, ăn kèm với khoai tây chiên.  Một nhà hàng cơm Tây nữa nổi tiếng với món Bouillabaisse là nhà hàng La Cigale (Con Ve Sầu), ở gần ngả tư với đường Richaud (Phan Đình Phùng).  Bouillabaisse là món đồ biển, gồm có nhiều loại tôm, cá, cua, ốc, mực, ăn với một loại nước chấm đặc biệt.  Món nầy ngon hay dở là do nước chấm đó, nghe nói làm rất công phu, món nầy xuất phát từ vùng Marseille của Miền Nam nước Pháp.  Một nhà hàng cơm Tây khác nữa là nhà hàng Duy Ban, đối diện với Chez Albert, cũng nổi tiếng, nhưng có lẻ nổi tiếng là do khung cảnh (rất lịch sự, trang nhã) hơn là món ăn, vì tôi không còn nhớ món nào là món ngon của nhà hàng nầy cả.

Về món ăn của người Hoa thì dĩ nhiên, không nói ai cũng biết, đó là mì Cây Nhản.  Tiệm mì nầy mang cái tên dễ nhớ đó là vì đặt cơ sở trong sân một ngôi nhà xưa, đối diện với trường Tiểu Học Đakao, có một cây nhản rất lớn.  Mì Cây Nhản ngon nhờ một thứ nước sốt đặc biệt, làm bằng thịt heo xoay nhuyển, vừa ngọt, vừa béo, vừa thơm.  Sau khi nấu mì xong cho vào tô, trước khi đổ nước lèo vào, thì nước sốt nầy được chan một ít lên trên mặt vắt mì.  Nước sốt nầy như thế sẽ thấm vào cọng mì, và sau đó tan vào trong nước lèo luôn, làm thành cái vị đặc biệt mà không có tiệm mì, xe mì nào có được.  Tiềm mì nầy, sau năm 1975, dời ra ngoài xa lộ, cách cầu Phan Thanh Giản chừng vài trăm mét.

Nói đến chuyện ăn uống ở Đakao mà không nói đến tiệm Cà phê Thái Chi sẽ là một thiếu sót lớn.  Dân sành điệu chuyên uống cà phê phin ở Đakao, và có lẻ một phần khá lớn dân ghiền cà phê phin của Saigon, ai mà không biết tiệm cà phê Thái Chi nầy.  Nằm ngay sát đầu đường Nguyễn Phi Khanh, tiệm cà phê nầy đặt cơ sở trong một căn phố nhỏ xíu, bề ngang chừng hơn ba mét, còn bề sâu vô chắc chừng hơn hai mét thôi, trong tiệm chỉ đặt được chừng ba hay bốn cái bàn gổ nhỏ, thấp lè tè, ghế thì toàn là ghế đẩu.  Tuy nhiên đừng vì cái bề ngoài lôi thôi nầy mà bị lầm.  Cà phê phin tiệm nầy có thể xếp vào hàng ngon nhứt của cả thành phố Saigon, theo ý kiến riêng của cá nhân tôi, thì còn ngon hơn cả cà phê phin Gió Bắc một thời lừng danh ở đường Phan Đình Phùng, trong khu Bàn Cờ.  Chủ nhân là một cặp vợ chồng sồn sồn (hồi thập niên 60, bây giờ không biết còn sống hay không) người Bắc di cư năm 1954 không có con cái gì cả.  Cà phê tiệm nầy ngon nhờ làm toàn bằng cà phê loại ngon của Ban Mê Thuột, do chính chủ nhân rang, ướp, và xay một cách đặc biệt nên hương vị vô cùng đậm đà, khi phục vụ khách thì dùng những phin rất tốt, pha thật đậm đặt, nên uống vô thì “phê” vô cùng.  Tiệm nầy hiện nay vẩn còn ngay tại địa điểm nầy, nhưng khách thì đông hơn gấp bội, vì tiệm bày thêm rất nhiều bàn ra ngoài lề đường luôn.  Điều nầy đã một lần nữa xác định tiệm Cà phê Thái Chi của khu Đakao quả là “danh bất hư truyền”.

Thay LờI Kết

Qua sự trình bày trên chắc bạn đọc cũng khó mà không đồng ý với tôi rằng khu Đakao quả thật là một trong những cái nôi văn hóa quan trọng của thành phố Saigon.  Nó là một trong những vùng đất được định cư từ lâu đời nhứt của Saigon, với một mật độ tập trung văn hóa rất cao về nhiều mặt: giáo dục, tôn giáo, bảo tàng, văn nghệ, và cả ẩm thực nữa.  Ước mong sau nầy sẽ có những công trình địa phương chí nghiên cứu nghiêm chĩnh vùng đất nầy để trả lời cho những thắc mắc mà đến nay vẩn chưa được giải đáp thỏa đáng như: nguồn gốc của địa danh Đakao và Đất Hộ, tại sao có quá nhiều đình trong một khu vực nhỏ hẹp như vậy, ai là những người dân đầu tiên khai phá vùng đất nầy?

Lâm Vĩnh Thế


Advertisements

Responses

  1. Cam on tac gia da ke ve khu DAKAO ,nhat la truong QUOC HOC(ben kia duong la tiem banh LUU LUYEN), toi cung hoc duoc khoang 7 thang sau do qua truong mau giao cua tata MARIETTE 7(duong PHAN DINH PHUNG,mac dau da 90 tuoi nay ba tata van con song !!),con noi ve dinh thi trong cho DAKAO co chua Ong QUAN CONG, con ngoai duong co tiem may DUNG,tiem sach MACH SONG vv..vv
    Mot lan nua cam on tac gia da cho toi nho lai DAKAO mot thoi tho au .
    Da ta

  2. Cám ơn tác giả đã cho hiện lại những sinh hoạt khu Đa Kao hồi xưa.Thật là thú vị tác giả còn nhắc tới tiệm cơm tấm của bà Ba Liên.Rất là chính xác,vì tiệm cơm này rất ngon va nổi tiếng ở khu Đa Kao.Nhà tôi ở là đối diện với tiệm cơm Bà ấy.Tôi quen rất thân với gia đình Bà ấy.Thật là 1 kỷ niệm khó quên.Cách tiệm cơm khoảng 2 căn có 2 tiệm bán Ô Mai Bắc Việt ,cũng khá nổi tiếng.
    ThuyPham

  3. Rất xúc động khi đọc bài nầy Cả quảng đời niên thiếu trải dài ra trước mắt.Lê Minh HUệ có dẩn tôi tới uống tiệm cà phê Thái Chi vài lần. Cà phê pha đậm quá làm tôi muốn ngất ngư con tàu đi.Tác giả Lâm Vĩnh Thế có lẻ đã quên trên đường Nguyến Phi Khanh có tiệm Ô Mai Bắc Việt rất trứ danh.Đường Huyền Quang đối diện đình Sơn Trà có chổ bỏ mối nem nướng rất ngon.Ai muốn ăn tới đặt rồi tới lấy về vì không phải cửa hàng.Gần rạp casino Đa Kao có tiệm thạch Hiển Khánh lúc nào cũng đông khách.Ngã ba Hiền Vương _ Đinh Tiên Hoàng có lò bánh mì ,bánh mì mới ra lò thơm dòn ngon só một Tiệm bánh Lưu Luyến nằm gần trường Vương Gia Cần, gần cầu xa lộ lấy tên hai người con trai Lưu và Luyến cựu học sinh LL học trên tụi nầy 2,3 lớp gì đó.Đình Sơn Trà phía bên hông đường HUyền Quang có tấm bia đá vẻ hình cọp nên đám trẻ con thường gọi đình Ông Cọp Đường Tự Đức đi sâu vào phía có bờ sông còn có đình Tân An bên cạnh có bải cỏ mà hồi còn nhỏ tôi và máy đứa bạn thường tới nhổ ném vào nhau cỏ dính vào áo liền giống cỏ đuôi chồn.

  4. Chùa Ngọc hoàng hiện nay
    “Nhìn lên tượng Ngọc hoàng cao hơn ba thước, đầu đội mũ bình thiên, gương mặt chữ điền với 4 chùm râu dài, tay cầm lệnh tiễn, bỗng thấy mình nhỏ bé dưới bầu trời quá, mà mây chung quanh là khói trầm, khói hương nghẹt thở. Qua bên hông gian thờ, lọt vào nơi Thập điện Diêm vương, ớn quá, bước ra lại. Trước mắt, chen vai, có nhiều cặp nam nữ đang cầm hương đi tới. Nhìn theo họ, thấy cắm chỗ này một cây, chỗ kia một cây, lẩm bẩm gì đó trước các bài vị Nam Tào – Bắc Đẩu, Hoa Đà tiên sư, Quan Thánh, Tề Thiên, hai thần Nhật Nguyệt. À, có lẽ họ nguyện ăn đời ở kiếp với nhau chẳng dám sai lời. Đình Ngọc Hoàng cũng là nơi những đôi vợ chồng cưới nhau lâu ngày chưa có con dẫn tới cầu tự.Cụ Vương Hồng Sển lúc sinh thời cho biết đây là ngôi cổ tích thờ Ngọc Hoàng xưa nhất của người Hoa tại Sài Gòn, xây trong 12 năm, đến 1906 mới xong, tức lạc thành cách đây đã 99 năm, Pháp gọi là chùa Đa Kao, hoặc: Empéreur de Jade, nay đổi là chùa Pháp Hải.” 😆

  5. Đa Kao: Người Pháp viết theo âm của chữ Đất Hộ của VN; theo ông Tân Việt Điêu, chữ Đất Hộ là chữ đọc trại của nguyên ngữ Đất Mộ (đất của lăng). 8)

  6. Đọc bài cùa Tác giả LVT về Dakao thật hay và cảm động khi khơi lại trong tôi biết bao kỷ niệm .
    Về nguồn gốc chữ Dakao theo tôi ( ý kiến chủ quan thôi ) vào những năm về trước khởi đầu từ chữ Đất Hộ … tôi có xem đươc một tài liệu khoảng 1950 Hộ là tiểu bộ phận hành chánh thời Pháp (tôi vẫn còn lơ mơ vê chuyện nầy ) Chợ Dakao do hội đồng Hộ nầy trông coi và lấy thuế …Người tây họ mới gọi và viết trên văn bản phiên âm là Dak Kuo (xem bản đồ xưa Saigon ) …Từ chữ Dak Kuo nầy thì người Việt ta lại đoc trại ra là Đa Kao (…lối đọc nầy nếu các bạn tìm hiễu vê nguồn gốc tên vùng ở VN thì thỉnh thoảng gập,tức là từ Đất Hộ -DakKuo -Dakao …Đó là một trong vài ba tên vùng khó giải thích nguồn gốc như hãng Ba Son , Vườn Bồ Rô ….Đây cũng là một đề nghị thôi …. 8)
    Kính bút
    Trần văn Hồng

  7. Trong bảy ngôi đình mà tác giả đã nêu ,tôi chỉ có kỷ niệm với ba ngôi đình Phú Hòa,Nam Chơn và Sơn Trà. Tôi có gặp vài lần Hương Lan con gái nghệ sĩ tài danh Hữu Phước lúc còn là Bé Hương Lan tại đình Phú Hòa. Đình Nam Chơn có mấy người lớn tuổi thường chơi cờ tướng. Gần đình Phú Hòa có chổ bỏ mối hột gà hột vịt mà những người buôn bán ở chợ Tân Định thường tới lấy mối mỗi ngày. Chùa Cô Hôn tôi chưa tới lần nào phải chăng vì có chùa nên mới có tên Xóm Chùa.?Ngoài tiệm cơm tấm bà Ba Liên ,cơm tấm Hiền Vương còn có cơm tấm Thím Hai Đôi bên hông trường Michelet đường Lý Trần Quán,hiện nay hình như vẫn còn .Cơm tấm nầy thuộc loại vĩa hè bán tới 12 giờ trưa là dep tiêm nên các bạn LL chương trình Việt không biết .Đối diện là Ty Thanh Niên thường có những hoạt động văn nghệ. Lần đầu tiên tôi nghe bài Khúc Hát Ân Tình và bài Let’s Twist again ở đây.Đêm cầu Thị Nghè bị sập ba má tôi có dẫn đi xem hội chợ cũng may không có chen lấn qua cầu.Tôi và mấy đứa bạn có tới chơi trại cưa Trần Pháp lúc đó có ghe máy chở mía chạy chậm xình xịch qua ,tên lớn nhất trong bọn lội theo ăn cắp mấy khúc mía về chia cho đàn em.Về sau “đại ca” nầy là Giảng Nghiệm Viên của trường Đại Học Khoa Học Saigon trước 75.
    Bài nầy chăc phải nhờ anh Khê post comment như Ngọc Thủy vì anh Khê là thổ địa khu Đakao mà.Có gì hay nhớ post cho anh em biết Võ Mai Loan thường tới chùa Ngọc Hoàng còn nhớ gì nhớ post cho anh chị em biết với!! 😆

  8. Trong mây ngôi đèn ở Đa Kao, tôi nhớ nhiều nhất là đèn Ngọc Hoàng. Hồi bé tôi hay ra đay xem mấy con rùa và xem mấy bà đi chùa thả rau muống cho rùa ăn. 😆
    Trưòng Quốc Học thì tôi còn nhớ là các bạn Long, Tuấn hồi đó đi học thêm ở đay. Đên khi lên Trung học (1962) thì hình như truờng này đóng cửa 8)

  9. Trường nữ trung học Trưng Vương Hà Nội di cư vào Sài Gòn năm 1954. Ban giám đốc gồm có: bà hiệu trưởng Tăng Xuân An, bà Nguyễn Thị Phú – giám học và bà Nguyệt Minh – tổng giám thị, cùng một số giáo sư và học sinh trường Trưng Vương. Năm học đầu tiên trường tạm trú (học nhờ) trường nữ trung học Gia Long. Trường Gia Long học buổi sáng, trường Trưng Vương học buổi chiều. Lớp tôi học trên lầu hai, dãy nhà đối diện với chùa Xá Lợi. Mỗi khi vào lớp, tôi mở hộc bàn tìm bức thư giao lưu của người bạn học buổi sáng. Ðại khái thư hỏi thăm người bạn ngồi cùng bàn học trái buổi tên tuổi? Sở thích? Chuyện học hành. Thỉnh thoảng vào giờ chơi các bạn đến xem mặt cô bạn “Bắc Kỳ nho nhỏ”. Các bạn nữ sinh Gia Long rất chân chất hay mặc áo bà ba trắng, quần rộng, đi guốc mộc. Chúng tôi kết bạn với nhau.
    Năm 1957, trường Trưng Vương dời về số 3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên trước đó là bệnh viện của người Pháp. Trường tọa lạc khu yên tĩnh, vắng vẻ. Ðối diện với cổng trường là Sở Thú, cây cối um tùm. Phía bên trái giáp Nha Khảo Thí, cách sân Nha Khảo Thí là trường nam sinh Võ Trường Toản. Ranh giới bằng hàng rào, nên hai trường nhìn sang nhau rất rõ. Bên phải giáp tu viện Nữ Phao Lô. Có thể nói đó là khu lý tưởng cho ngôi trường. Nhưng mà: “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Bên ngoài dáng vẻ nhu mì, dịu dàng các cô nữ sinh Hà Thành, bên trong sôi động nghịch ngợm. 😳
    Vào những buổi chiều mưa, trời âm u lạnh lẽo. Nữ sinh yếu bóng vía sợ ma lắm. Ðã nhát còn hay tò mò. Những khi có giờ trống hay tranh thủ giờ ra chơi, rủ nhau xuống nhà để xe chơi cầu cơ, gọi hồn. Ðặt ngón tay trỏ trên miếng gỗ hình trái tim, miếng gỗ chạy lên chạy xuống đầu cơ dừng ở bảng chữ cái ghép các chữ thành câu. Họ hỏi hồn cơ đủ chuyện, hỏi về người nào đó, cho biết đề thi, tên bài thi.v.v… Nhưng luôn luôn bị trệch tủ không trúng. Thỉnh thoảng, cô Tổng Giám Thị đi kiểm tra các lớp, xem học sinh có đeo phù hiệu, có ở lại lớp giờ chơi không? Cô đi thong thả, nét mặt nghiêm nghị. Cô đi đến đâu, các nữ sinh chạy rần rần như ma đuổi. Có người đi chân đất mà chạy.
    Giờ tan học nhiều cây si đứng dọc hai bên đường, xe đạp có, vespa có, thỉnh thoảng có xe jeep hoặc xe hơi – ngoại trừ xe của phụ huynh đi đón con em. Có chàng đứng ngắm các nữ sinh ôm cặp sách, nón lá nghiêng che, tà áo lượn bay theo gió. 😆

    “Em tan trường về, trời mưa nho nhỏ
    Em tan trường về, ôm nghiêng tập vở”
    … Em tan trường về, anh theo Ngọ về”
    (Ngày xưa Hoàng Thị – Phạm Duy)

    [BBT:Em tan trường về, trường tan em về]

    Có chàng lặng lẽ theo nàng về để rồi tâm hồn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ.
    Vào dịp lễ kỷ niệm hai bà Trưng, trường Trưng Vương rộn rã “ngày hội Trưng Vương”, thành phần nòng cốt trong buổi lễ cử hành ở khuôn viên trước Tòa Ðô Chính Sài Gòn. Hai nữ sinh được chọn tái hiện hình ảnh hai vị nữ anh hùng oai phong cưỡi voi xung trận. Một số nữ sinh vai nữ binh đứng dọc hai hàng, vai khoác gươm đao. Các nữ sinh đệ tam đồng ca bài truyền thống “Trưng Nữ Vương” vang cả khung trời, lời ca hào hùng.

    “Trưng Nữ Vương lau phấn son mưu thù nhà
    Mài gươm vang khúc toàn thắng hùng ca
    Thu về giang san cho lừng uy gái Nam
    Bầu trời Á sáng ngời ánh quang.”

    😆

    Buổi chiều ngày lễ có đồng diễn thể dục. Các nữ sinh đệ ngũ biểu diễn đồng phục quần soọc xanh đậm, áo sơ mi trắng, chạy theo đội hình chữ TV cùng một số bộ môn thể thao khác tại sân vận động Hoa Lư hoặc sân Phan Ðình Phùng.
    Dấu tích “trường nữ trung học Trưng Vương” không còn nữa. Cổng trường đã bị phá, xây lại thay vào bảng hiệu “Trường Phổ Thông Trưng Vương” trường cấp III học chung cả nam nữ. 😆

  10. Gia dinh toi song o duong Nguyen Phi Khanh cach cafe ba Chi vai can, canh ong thay boi noi tieng Ba La… sau do don ve duong Tran Quang Khai cho den nam 1965, cung duong voi anh anh em Bi Vinh Long & Tuan, Nguyen Van Nam (Nam Lua, sat canh nha Long), Dong Phuc Hong, doi dien nha 3 anh em Duong Xuan Quang, Binh va Nhu Nguyen… Con duong TQK ngay xua co nhieu cay dau (?) cao, than la deu to, dac biet la nhung trai dau khi rung xuong xoay tron nhu chong chong bon tre nho chay theo de chup bat rat vui ngay nay da bi don bo kha nhieu. Nha cua nghe si Huu Phuoc, Huong Lan cung gan nha toi, sat ben don Canh Sat, doi dien tiem thuoc tay Duyet. Moi buoi sang di hoc toi van thuong gap ong Huu Phuoc ngoi uong bac-xiu (cafe den) o cai quan hu tiu ben kia duong. Toi cung hay gap ca si Huong Lan hoi con chut xiu, gay om… tu luc chua len san khau cho den luc nhan vai dien dau tien la con cua Thanh Nga trong vo cai luong nao do quen ten roi va bat dau tro thanh than dong Huong lan. 😆

  11. Nhắc đén Dốc Cầu Bông khó quên bài ca của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ do cặp vợ chồng Ngọc Cẩm -Nguyến Hữu Thiết trình bày được sửa lời lại ” Ai đang đi trên Cầu Bông,rớt xuống sông ,ướt cái quần ny lông ” 😆

    Hồi còn tiểu học tôi và mấy đứa trong xóm thường qua Dốc Cầu Bông đi bộ tới trừơng nữ trung học Lê Văn Duyêt,lội đại vào mấy ao rau muống vớt cá lia thia đem về nhà nuôi,vui thiệt 😆

  12. Thấy các bác nói về khu Đakao em cũng lấy làm hãnh diện lắm! 😆
    Vì em là dân Đakao chính thống từ nhỏ đến lớn, dến năm nay thì em cũng đã 53t. Chắc có lẽ em vẫ nhỏ tuổi hơn bác LVT, bài viết của bác về vùng Đakao rất hay! nhưng em có vài ý kiến xin hỏi là: Đakao và Tân Định là hai vùng khác nhau hay là một ? Bởi vì theo cách nghĩ của em thì ranh giới của vùng Đakao là dọc theo kênh Nhiêu Lộc đến Cầu Bông đi thẳng qua Hiền Vương dến Hai Bà Trưng rẽ trái xuống thẳng đến đường Thống Nhất bọc lại Thảo cầm Viên là hết. Cho nên có một số địa danh nó lại nằm vào khu Tân Định hoặc quận Ba , Bến Thành…Một vài ý kiến cá nhân , mong các bác góp ý nêu có sai sót. Xin chân thành cảm ơn! 😆

  13. Đa Kao và Tân Định là 2 vùng khác nhau.Ranh giới không rõ ràng nên khó cắt nghĩa.Như đường Hiền Vương nằm giữa Đinh Tiên Hoàng và Hai Bà Trưng thường được gọi là khu Đất Thánh Chà hay Đất Thánh Tây (nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi) Đất Thánh Chà là đường Lý Văn Phức nằm giữa Hiền Vương và Nguyễn Phi Khanh .Chắc nơi đây trước kia chôn người Ấn vì vùng nầy có nhiều nhà có cổ mộ ngay trong nhà: người sống sống chung với người chết. Cầu Phú Nhuận đi ngược về chợ Tân Định là khu Tân Định từ ngả ba Hai bà Trưng-Trần Quang Khải đến ngả tư Trần Quang Khải-Đinh Tiên Hoàng thuộc khu Tân Định Qua Dốc Cầu Bông đi về Lăng Ông có trường nữ trung học Lê Văn Duyệt thuộc khu Bà Chiểu. 😆

  14. Xin bổ xung ba điểm mà tôi thật thú vị khi đọc bài Đakao …
    1/ ” Em tan trường về …” thơ của tác giả Phạm Thiên Thư . Có một thời tác giả ở phía sau chợ Tân Định và cô Hoàng thi Ngọ thì ở mặt tiền đường Trần Quang Khải và bác Phạm Duy phổ nhạc ,thành nổi tiếng ,nhưng hình như cô Ngọ chẳng hề quan tâm gì tới chàng thi sĩ nầy thì phải. Tác giả Pham Thiên Thư là nhà thơ Phật giáo khá trổi bật …
    2/ Đất thánh chà , hồi nhỏ tôi cũng tưởng như để chôn người Chà Chetty Ấn , nhưng sau có xem sách của Vương Hồng Sển và Sơn Nam đồng giải thích là Đất thánh “trà ” chớ không phải “chà “.lối giải thích nầy nghe hợp lý hơn , vì chôn trà chôn lấp đại cho những người không có nhà cửa , lang thang , không thân nhân .Về sau Tòa Đô Chánh ( Sở Tây )lấy đất đó làm cư xá Lý văn Phức dành cho các gia đình công chức làm ở đây hoặc hoặc ở Sở Vệ Sinh và dời “chôn trà ” vê nghĩa địa Chí Hòa ờ đường Lê văn Duyêt qua khỏi chợ Hòa Hưng…
    3/ Về mặt chia ranh vùng Đakao- Tân Định ,theo tôi nên lấy bản đồ phân vùng giáo phận của hai nhà thờ Tân Định và ĐaKao sẽ có phần chính xác vì hai họ đạo nầy đã xuất hiện rất sớm chung thời với hai vùng trên…
    Vui mừng được góp ý cùng các bạn

  15. Cám ơn anh Hồng đã đưa ra những nhận định chững chạc và rõ ràng, dựa theo tài liệu khảo cứu. Nhờ đó, tôi học thêm được vài điều. Tôi rất thích thơ của Phạm Thiên Thư và xem ông như môt thần tượng mặc dù tôi không theo đạo Phật. Thời còn là sinh viên, tôi nhớ thuộc lòng cả chục câu thơ trong tập “Động Hoa Vàng” của ông. Sảng khoái vô cùng! 😆

  16. Đa Kao còn là vùng đất với những hoạt động văn nghệ sôi nổi nhất là Nhạc Trẻ.
    Khởi đầu từ năm 1964, các Đại hội nhạc trẻ Taberd (danh từ nhạc trẻ do chính Trường Kỳ đặt) liên tiếp diễn ra cho đến năm 1973 (trừ năm 1968 do chiến cuộc), rồi Đại hội nhạc trẻ quốc tế ngoài trời (sân Hoa Lư, 1971), Đại hội nhạc trẻ (tại Thảo Cầm Viên từ 1971 đến 1974). Thời đó, lớp trẻ Sài Gòn với tâm lý “sống vội, chơi hết mình” (vì sợ ngày mai phải ra chiến trường) nên đã hình thành một phong trào phản chiến, đó là phong trào Hippy. Và với họ, nhạc trẻ đã đưa lại không khí tươi vui, năng động… thế nên họ coi nhạc trẻ như một hình thức phản chiến tích cực nhất. .Các ban nhạc trẻ cũng mọc lên như nấm dưới cây đũa của nhạc trưởng Trường Kỳ. Không chỉ tổ chức những đại hội nhạc trẻ, Trường Kỳ còn viết lời Việt cho những ca khúc ngoại quốc. Chỉ trong vòng một năm (1972 – 1973), những ca khúc đã được “Việt hóa” đã có mặt trong 7 tập Tình ca nhạc trẻ (trong đó tập 1 là của riêng Trường Kỳ, từ tập 2 có thêm sự cộng tác của các nhạc sĩ Phạm Duy, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang…). trong suốt hai thập niên 60 – 70 của thế kỷ trước, Trường Kỳ đã cùng các bạn nghệ sĩ Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc Đức Huy,Tuấn Ngọc, Billy Shane,Elvis Phương… tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn âm nhạc quy mô tại Sài Gòn

  17. Chà Và do chữ Java ra.Người Việt mình thường gọi những người có nước da ngâm đen như Ấn Độ là Chà Và. Bình Nguyên Lộc trong “Nguồn Gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam ” cho biết mấy trăm năm trước có nhiều người Mã Lai,Nam Dương sinh sống ở Saigon.Những tiếng VN như lính Mã tà,áo bà ba,chiếc Ghe là do chữ Mã Lai mà ra. Tôi sinh và lớn lên ở vùng Đất Thánh Chà có chút hoài nghi về cách giải thích của Sơn Nam và cụ Vương Hồng Sển vì ngay trong hẻm 46 Lý Trần Quán vài nhà còn có cổ mộ theo kiểu Hồi Giáo cao gần 2 m ,xây bắng đá ong rất kiên cố ,khó có thể nói mộ hoang.Sau 75 có cuộc khai quật mồ và nhiều cốt đã được lấy lên,tôi nghe gia đình nói xương cốt chất cả đống.Hẻm 46 còn dấu tích bức tường nghĩa địa như bức tường đất thánh Tây cũ .Những người làm cho Sở Vệ Sinh Đô Thành phần lớn là dân Hố Nai .Không biết cây điệp cổ thụ đầu đường Lý Trần Quán _Hiền Vương có còn hay không?mấy cây sao trước trường Michelet? Hồi tôi còn ở VN nhiều cây sao cả trăm năm đã bị đốn đi rồi.!

  18. Thi sĩ Đinh Hùng cũng ở gần chợ Tân Định đó anh Hồng ơi! ĐH ở đường Trần Văn Thạch gần ngả ba Nguyễn Phi Khanh Trần Quang Khải Đinh Hùng mất năm 64,65,66 gì đó .Buổi sáng xuất quan ,tôi có đi bộ tới xem đám tang của ông.Nhà văn Nhất Linh sống bên Xóm Chùa nên NL có viết quyển “Xóm Cầu Mới” Nhà văn Mai Thảo sống trong hẻm 46 Lý Trần Quán chung với nam ca sĩ Anh Ngọc Còn Duyên Anh là nhà văn của Đa Kao.

  19. Thi sĩ Đinh Hùng đúng là có lần ở Tân Đinh , ngay dãy phố đối diện tiệm buôn Thế Giới , và ở trên lầu ( lời thuật lại của bà Thục Oanh – vợ cúa thi sĩ nhà giáo Vũ Hoàng Chương – và là em ruột của ĐH – VHC dạy ở Văn Hiến ) – khu mình ở có nhiều người nổi danh ghê , mà mình chưa thể thống kê .mấy cây sao ( Hopea odorata )trước trường Michelet nay vẫn còn đó nhưng trơ trụi bởi các tarzan saigon( thợ đốn cây ) ,cò gốc phượng vỹ (Delonix regia )ở LTQ cở 2 người ôm …Nhớ câu trong Kiều :
    “Có khi gốc tử đã vừa người ôm…”
    Hôm nào rảnh về đây chơi , anh chở đi vài vòng thăm quê cũ .
    Les Lauriers còn là trường củ cùa ca sĩ Lệ Thu nữa . Cô Lệ Thu hoc chương trinh Pháp năm 59 . tức là năm đầu tiên trường dời từ Mac Đĩnh Chi về ĐCT , do ông đốc Chơn mua lại từ trường Tân Thịnh ( cùa anh em giáo sư Phan Ngô , Phan Khôi gồm Tân Thịnh , TânThạnh , Văn Hiến ,Văn Lang …và Tân Thanh ở ngoài Saigon – ở chổ Hotel New Worl bây giờ ) . Và giữ tên LL tới khỏang năm 71,2 thí đôi tên Văn Minh ( do thuế má đánh thật nặng những cơ sờ kinh doanh mang tên Tây ,bài tây thân… ) cho đến năm 75 , nhà nước mới lấy và chuyển ra thành trường tiểu hoc Đuôc Sống đến nay 😆
    Nguồn : con ông đốc cung cấp năm thành lập trường LL Đinh Công Tráng .

  20. Đinh Hùng ở lầu 2 còn lầu1 có tiệm người Hoa bán đạn bi,tập sưu tầm tem thư,hình chơi con nít. Bên kia đường có tiệm bán cà phê rang ,chổ tập tạ. Cảm động thiêt! cây điệp và mấy cây sao vẫn còn chứng kiến bao nhiêu cảnh vật đổi sao dời. Chổ cây điệp trước kia có người ngồi vá bánh xe,bên kia đường là xập báo ,bên cạnh xập báo là nhà in. Cách cây điệp hai căn nhà là biệt thự của giáo sư Vũ Văn Mẫu. Mấy bác lớn tuổi ở đây còn cho biết ở khu nầy còn có 1 người dân chúng ít ai biết tới nhưng người nầy mới thật là anh hùng trong anh hùng.

  21. Đinh Hùng là thi sĩ của Tình Yêu lãng mạn.Thơ ông được phổ nhạc rất nhiều. Ngoài “Mộng Dưới Hoa ” được nhạc sĩ thiên tài Phạm Điình Chương phổ nhạc còn có bài thơ tuyệt tác Mái Tóc Dạ Hương do nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ nhạc

    Mái Tóc Dạ Hương

    Từ giã hoàng hôn trong mắt em
    Tôi đi tìm những phố không đèn
    Gió mùa thu sớm bao dư vị
    Của chút ân tình vương tóc quen

    Từng bước lần theo trăng viễn khơi
    Trong đêm còn mơ dáng ai cười
    Tiếng cười như cõi thiên thu lại
    Tiền kiếp xưa nào em hé môi

    Rồi đây trên những lối đi này
    Ta sẽ cùng ai tay nắm tay
    Nhịp chân lưu luyến mãi cung đàn
    Buông lắng chìm tâm tư đắm say

    Dĩ vãng nào xanh hơn mắt em ?
    Chao ôi ! màu suối tóc buông mềm
    Nét buồn khuê các hoen sương phủ
    Nhạt ánh sao mờ bên dáng xiêm

  22. Nếu nói về Đakao thì tác giả của bài viết đã nói rất kỹ tuy nhiên vẫn còn thiếu tôi xin bổ sung một ít.
    Đầu tiên thì phải nói đến cây cầu Sắt mà những người lớn tuổi thường hay gọi là cầu Xe Lửa, bởi vì nghe nói ngày xưa có tuyến đường xe lửa chạy qua đây ( Vì tôi sống tại khu cư xá bưu điện kề sát cầu Sắt cho nên cho phép được tự quảng cáo một tí . HiHi!)
    Thứ hai thì phải nói đến nhà thờ Phan Xi Cô, ở cuối đường Phạm Đăng Hưng, đây hình như là nhà thờ chính của giáo dân vùng DaKao.
    Còn trong chợ, trước cửa đền thờ cụ Phan Tây Hồ có một quán bún chả ( Bún thịt nướng) gọi là quán cô Liên ăn ngon hết biết, không biết các bạn đã thưởng thức chưa?
    Tạm nhớ tới đâu, viết tới đó, mong các bạn góp ý thêm.

  23. Tôi lâu lâu có đi bộ đến Cầu Sắt vì có ông bác ở gần đây,láng giềng của TQ Vinh đó.Hai chị bà con,một người làm y tá cho nhà thương Từ Dũ,một người dạy Anh văn cho Võ Trường Toản.Hiện nay sinh sống ở Hoa Kỳ.Tôi nhớ man mán qua Cầu Sắt đi một lúc tới Nhà Thờ Ba Chuông thì phải?Giáo xứ Phanxico và Tân Định là 2 giáo xứ xưa nhất như anh Hồng đã nói ở trên.Thanh Lan,cô ca sĩ thần tượng hàng triêu sinh viên học sinh ở bên hông chùa Ngọc Hoàng đường Phạm Đăng Hưng.Cuối thập niên 60 Saigon có nhiều ban nhạc trẻ như ShotGun,CBC thường mượn sân Hoa Lư để trình diển Duy Khánh lâu lâu có đến Ty Thanh Niên đường Lý Trần Quán .Tôi có nghe bài “Những Ngày Xưa Thân Ái ” ở đây .Và bài Let’s Twist again do Elvis Phương hay Đức Huy gì đó vừa hát vừa nhảy như ca sĩ trong clip sau đây:

    Buồn cười nhất là Billy Shane hát bài “Sugar” lúc phải lên giọng cao,ôm chặt cây đàn,rút đầu như con rùa đeo kính cận thật dày ” you make life so sweet” Sao thương mến quá những nghệ sĩ Saigon năm xưa

  24. Di tích kiến trúc – nghệ thuật đình Nam Chơn tọa lạc tại số 29 Trần Quang Khải – Phường Tân Định – Quận 1 trên một khuôn viên rộng hơn 1.100 m2. Đình mang hình ảnh cổ xưa: Cổng lợp ngói ống, đầu mái uốn cong, có cây đa cổ thụ cao vút che bóng. Trong sân đình có hai ngôi nhà Tả vu và Hữu vu được xây dọc đối diện nhau. Tả vu được dùng làm phòng chẩn trị y học cổ truyền, Hữu vu là văn phòng CLB truyền thống quận. Vào khoảng tháng 6/2007, xảy ra một sự cố do trận mưa lớn, cây đa trước đình đã tróc gốc đè sập mái nhà Tiền điện, gây thiệt hại nghiêm trọng các cấu trúc của Đình.
    Đình Nam Chơn là một công trình văn hóa đặc biệt có giá trị về mặt kiến trúc, nghệ thuật độc đáo đã tồn tại hơn nửa thế kỷ, với những nét chạm khắc, những hoa văn tinh xảo, cầu kỳ do các nghệ nhân cha anh đã tốn bao công sức và trí tuệ gây dựng. Có thể xem đây là một tài nguyên văn hóa quốc gia, là nơi để chúng ta hôm nay và con cháu mai sau chiêm ngưỡng, học tập về tính sáng tạo và tay nghề độc đáo của thế hệ cha – anh.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Categories

%d bloggers like this: