Đăng bởi: BBT | Tháng Một 27, 2018

Người Thế Hồn Cho Thần Linh (Kỳ 1: Thảm kịch đại tộc họ Lý ở làng dừa Kim Bông)


                                

*truyện kỳ ảo PhạmNga

Kỳ 1: Thảm kịch đại tộc họ Lý ở làng dừa Kim Bông

1.

Từ xa xưa, những rặng dừa nước đìu hiu, những dề rau muống tơi tả vẫn lặng lẽ đóng vai những vật chia cách ù lì, dưng không giữa một làng Kim Bông khép kín, trầm mặc, với nhịp sống ồn ào, nhộn nhịp của khu phố chợ bên kia sông. Năm tháng trôi qua, nhất là vào mùa mưa, những thứ cây cỏ được trồng, thả tự do trên mặt nước hay tự ý mọc hoang cứ làm hẹp dần đoạn sông Cái quanh co chảy ngang qua làng. Chiếc cầu gỗ chắp vá, xiêu vẹo và gập ghình – do tư nhân bỏ vốn bắt qua sông, thu tiền người, xe qua lại – đã thay thế cho một cây cầu gỗ khác bị nước lũ cuốn đi mất tích trong một trận lụt năm nào.

Khi đứng bên này sông, chưa bước chân xuống những tấm ván gỗ đen xĩn, so le trên mặt cầu, người ta đã thấy cả một vùng bát ngát những tán lá dừa. Dừa xiêm, dừa lửa, dừa ta, dừa lai, dừa bị…, các giống dừa chiếm cứ gần hết đất làng, khiến dân bên phố thường hay bảo nhau “Qua Kim Bông uống dừa chơi …”.

Quanh năm, dù lúc nắng hay lúc mưa, ánh nắng trời đều bị che áng bởi tán lá dừa. Nhưng cái màu xám tối của khung cảnh làng dừa này lại không phải là sự dịu mát đáng tán thưởng của một vùng tiểu khí hậu êm ả, bình an. Khi có người thắc mắc về chuyện ngẫu nhiên mà có khá nhiều dân làng đã và đang mắc bệnh lao phổi từ bao năm qua và đang chết dần chết mòn trong cảnh sống tối tăm, nghèo khổ kéo dài, thì có ai đó đã cho rằng chính tình trạng làng này thường xuyên thiếu ánh nắng, thiếu ánh sáng mặt trời, cộng thêm sự ẩm thấp tiềm tàng sau những cơn lụt hằng năm, đã khiến môi trường sống tại đây bị ô nhiễm trầm trọng, thiếu hẳn không khí trong lành…

Những ngôi mộ của những người không thể chữa lành các bệnh lao kháng thuốc, xơ gan, viêm gan, gút, AID… đã lần lượt xuất hiện đây đó trong các mảnh đất vườn của dân làng. Ngay bên cạnh các gốc dừa xơ xác, những ngôi mộ tô xi măng, quét vôi thông thường cứ chen chúc với những ngôi mộ đá ong rất xưa, tàn tạ như phế tích, mà rất ít dân làng còn nhớ lai lịch. Cũng không ai trả lời được câu hỏi tại sao trong diện tích thổ cư của một ngôi làng nhỏ bé, dân sống rất thưa thớt như làng Kim Bông mà lại có quá nhiều mộ cổ đá ong.

Con đường cát mấp mô, quanh co dẫn vào đất hương hỏa họ Lý, ở giữa có một căn nhà rất xưa, được gọi là nhà từ đường hay tổ đường. Căn nhà này được cất từ hơn 100 năm trước, khi mà những dãy dừa nước hoang dại còn ken đầy dọc theo hai bờ sông Cái và những vạt rừng dừa nguyên sinh còn chen lẫn với những mảnh vườn dừa nhỏ bé, vắng lặng của số dân làng ít ỏi.

Người đàn ông, người chủ nguyên thủy, xây dựng nên căn nhà bề thế này tên là Lý Đam, xuất thân từ một gia đình chủ phường đánh cá. Thời trai trẻ, Lý Đam sống ở tận ngoài hòn Bích Điệp – một hòn đảo lớn ngoài khơi vùng biển tỉnh Khánh Hòa. Lớn lên với nghề biển của gia đình và đến lúc đã có thể tự lực làm chủ một số ghe cá lớn nhỏ, Lý Đam quả quyết ra riêng, thoát ly hẳn công việc làm ăn của cha mẹ. Chẳng bao lâu, họ Lý trở nên giàu có còn hơn cả cha mẹ mình.

Một ngày kia, tức gần đúng 100 năm trước, với kinh nghiệm dạn dày và thực lực mạnh mẽ của một ông chủ phường tuổi trung niên trong nghề lưới đăng, Lý Đam tạm rời biển khơi mà bước vào đất liền, tức thị xã Nha Trang thời còn sơ khai, thuộc triều đại các vua cuối đời nhà Nguyễn. Lý do ông chọn làng Kim Bông dựng nhà, tức một thứ bất động sản trên đất liền, thì không chỉ là để có cơ ngơi cho vợ con cư trú cho đàng hoàng, biệt lập, mà còn vì đoạn sông Cái chảy ngang trước nhà có thể cho phép ông điều động toàn bộ những ghe cộ di chuyển, ra đi và trở về, dễ dàng từ nhà ông – như một hậu cứ vững chãi – xuất phát ra biển, ra đảo Bích Điệp – như một tiền phương mông mênh của nghề lưới đăng lưu truyền trong giòng họ…

Hằng năm, cứ vào đầu mùa lưới đăng, ghe thuyền được sửa sang, sơn phết như mới, họ Lý còn có lệ làm lễ cúng ra quân rất linh đình, kéo dài hai, ba ngày đêm. Vườn dừa trước nhà người giàu nhất làng Kim Bông biến thành sân chiêu đãi ăn uống và bài bạc cho các ông hương lý, chức việc và các phụ lão trong làng. Sân gạch trước gian nhà thờ biến thành sân khấu dã chiến lộ thiên, không cần phông màn chi cho rườm rà,  để những gánh hát bội,  hát bài chòi được chủ gia mướn về diễn các tuồng tích cổ trang cho toàn thể dân làng già trẻ, lớn bé xem mãn nhãn miễn phí.

Rất giàu sang và được các quan chức địa phương nể trọng, lần hồi danh tiếng của ông Lý Đam vang tới triều đình Huế, đủ để ông được ban tước “tứ phẩm bá hộ”. Từ đó, họ Lý nổi tiếng không chỉ với gia sản kếch sù trên bờ, dưới biển của một nghiệp chủ nghề đánh cá nữa mà còn với danh giá, phẩm hàm của vua ban.

Một bức ảnh lớn, sơn son thếp vàng, chụp ông Lý Đam ngồi thẳng lưng, mặt lạnh như tiền, xòe đủ các ngón tay, uy nghi với triều phục “tứ phẩm”, được treo tại gian thờ trong nhà từ đường mà từ nay, phải gọi là “nhà quan” mới chính xác, chủ nhà nghe mới đẹp dạ.

Việc làm ăn ngoài đảo Bích Điệp vẫn trôi chảy, tiến triển tốt. Làng chài do họ Lý lập nên vẫn ngày càng nhộn nhịp ghe thuyền và thu hút thêm ngư dân từ những đảo khác đến sinh sống, làm ăn. Trong cái nghĩa địa nhỏ bé, thường xuyên vắng lặng ở một góc làng đã lũ lượt xuất hiện những núm mộ hiu quạnh, vài cái không có cả tấm bia, gói ghém nắm xương tàn của những người dân vạn chài nghèo khó, cùng mạt …

Chính ông chủ làng, người xây dựng, đặt định hầu như mọi điều liên quan đến cuộc sống và hầu như cả cái chết của dân làng Bích Điệp, cũng đang chết, hay mô tả cho có hình tượng hơn là “một chân đã bỏ vô hòm”, như dân gian ta thường ví von.

Có thể coi như ông Lý Đam đang chết dần mòn, dù lúc bấy giờ ông chỉ già yếu, bại liệt, thường ở lì trong làng Kim Bông mà bỏ đi biển, không ra làng chài của mình ngoài đảo nữa.

Ngày ngày, sau khi dùng những thang thuốc Bắc cực kỳ bổ dưỡng do vợ con dâng lên, cụ bá hộ tứ phẩm chỉ ngồi yên trên chiếc ghế tựa bằng song mây mà nhìn ngắm bức ảnh mặc áo mảo triều đình của mình.

Ta mới đẹp đẽ, uy nghi làm sao! Nhưng gã thanh niên ngư phủ rất cường tráng, rồi ông chủ sở lưới đầy quyền lực, từng dãi dầu sóng gió biển khơi ngày nào – hai nhân cách này đã chết cả rồi. Tâm tưởng lãng đãng, ông Lý Đam không còn cảm thấy hã dạ, thú vị về những quãng đời  – dù rất thành đạt – cùng những diện mạo – dù rất sống động –  của chính mình trong quá khứ. Vào cuối đời, hình như lúc nào ông cũng mơ màng tưởng nghĩ đến một hình ảnh duy nhất là con người làm quan của mình, dù đó chỉ là chức quan hàm, phẩm quan danh dự chứ không thực tế có mặt xớ rớ chốn quan trường hay ngồi cai trị thứ dân.

Dù sao thì cụ bá hộ cũng không thể phủ nhận rằng cái bản chất dân dã, cái gốc xuất thân của chính ông mà ông có ý muốn chối bỏ vào quãng cuối đời mình, cũng đã là vốn liếng tiềm tàng, căn bản, giúp cho ông xây dựng cả một sự nghiệp như đã có. Nếu không từng là một loại thường dân cá biệt, tức một người dân thuộc hạng giàu có vượt bậc, dựng lập cả một làng chài, góp công mở mang cương thổ cho triều đình ở vùng đảo xa, thì ông lấy đâu ra tiền tài và thế lực để được nhà vua để mắt đến?

Đã hồ đồ, bất công, không sòng phẳng với chính quá khứ xuất thân của mình, cụ bá hộ già nua còn rất ít ngó ngàng tới cơ ngơi làm ăn của mình ở làng chài ngoài đảo. Nhưng lúc này đã có người con trai lớn là Lý Ân, thay thế cha mà lo liệu mọi việc liên quan đến nghề lưới đăng cũng như vai trò chủ làng chài Bích Điệp.

Rồi bức ảnh vị quan tứ phẩm bãnh chọe chưng trên vách gian thờ cứ ngày một mờ dần trước đôi mắt không còn sinh khí của ông cụ già. Ngày đêm ông chỉ thích ngồi bất động. thinh lặng mà nhìn ngắm chính mình trên ảnh, bỏ lơ cả việc thều thào ra lệnh, đòi hỏi vợ con trong nhà chạy tìm thuốc thang cùng những món bổ dưỡng nhất để may ra, có thể níu kéo sự sống của chính ông được ngày nào hay ngày nấy.

Khi đã hôn mê, hấp hối, rõ ràng là cụ bá hộ họ Lý không được thanh thản cho lắm. Sau này, nhiều người trong làng thầm lén bàn tán, rằng hình như ông đi không nhẹ nhàng vì hẳn là còn nuối chờ một đứa con hoang, bị ông bỏ rơi đâu đó trong làng chài ở đảo hay bên phố Nha Trang. Rốt cuộc đứa con không được nhìn nhận kia cũng không hề xuất hiện, không rõ là do không biết tin cha mình – ông chủ làng Bích Điệp qua đời hay chính người con ấy đã chết mất rồi…

Lúc lâm chung, cụ bá hộ không có gì nhiều để trăn trối và trước đó, ông cũng không hề lập di chúc gởi cho một ngôi chùa nào đó giữ sẵn như theo lệ riêng của giới phú gia địa phương. Cũng theo tục lệ thì phần gia sản hương hỏa sẽ được giao cho con trai trưởng hoặc trai con út. Căn cứ theo danh sách công khai  – nhưng không thể chính xác như thực tế – thì ông bá hộ có mười người con, vừa trai vừa gái, nhưng còn sống trên đời chỉ còn có bốn người và trong số đó, có hai con trai.

Theo truyền thống trọng nam khinh nữ thời phong kiến, người ta chỉ giao cho con trai trong họ “thủ từ đường”, tức quản lý, coi sóc phần hương hỏa, gồm nhà cửa, đất đai, vườn dừa, mộ phần tổ tiên… Tuy vậy, cụ bá hộ đã gây ít nhiều bất ngờ cho cả giòng tộc và dân chúng trong vùng.

Theo kiểu phim truyện cổ trang nhiều tập của Hồng Công, có thể xem đây là trường đoạn khá lâm ly và bi đát, nói về một sự kiện lớn lao xảy ra trong gia tộc họ Lý giàu nức tiếng tỉnh Khánh Hòa. Lão bá hộ, viên ngoại Lý Đam – hay lão gia gia Lý Đam, trưởng tộc đời thứ nhất của họ Lý ở thôn Kim Bông – qua đời.

Vào những ngày cuối của cụ bá hộ, thường trực cận kề và chăm sóc lão gia gia thì có con trai thứ mười, cũng là con út trong nhà, tức tiểu thiếu gia đời thứ hai, tên là Lý Đới. Còn đại thiếu gia đời thứ hai Lý Ân, dù là đứa con thứ bảy trong nhà nhưng vì không có người anh nào còn sống nên nghiễm nhiên ông thứ nam này đóng vai trưởng nam họ Lý. Khi cụ bá hộ chết đi, đến lượt ông Lý Ân sẽ giữ vai vế trưởng tộc họ Lý. Trong tang lễ cha mình, không ai khác ngoài ông Ân nhận vai hiếu tử trưởng nam “đầu rơm mủ bạc” đi trước linh cữu. Điều quan trọng nhất, xác định ưu thế về công lao, thành tích trong gia tộc, là ông Lý Ân đã và đang tiếp nối, gầy dựng thêm gia sản họ Lý ngoài biển Đông.

Vậy mà lão bá hộ Lý Đam lại trăn trối giao lại điền trang, hương hỏa cho ông út Lý Đới. Ông Lý Ân chỉ được nhận phần tài sản, gồm vàng bạc, tiền tệ, ruộng đất, nhà phố…, được cha mình chia cho riêng, giống như các chị em của mình mà thôi. Chỉ rất hợp lý là cụ bá hộ không dám giao công việc làm ăn nghề biển của gia tộc cho ông con út vốn có thành tích phá của. Ông Lý Ân được tiếp tục quản lãnh đội ghe thuyền và có nhiệm vụ nộp phân nửa số lợi tức thu gom từ việc bán lượng hải sản đánh bắt được về nhà từ đường, để bảo bọc cuộc sống cho các gia đình hai người chị và em trai út của mình. Có thể nói, tuy không minh danh, chính thức, nhưng giàn nghề biển cùng một nửa số lợi tức thu được từ biển khơi còn lại đã hầu như được coi là thuộc phần thừa kế của ông Lý Ân, người duy nhất nắm quyền về mặt kinh tế, nắm giữ và cấp phát cho thu nhập chính của toàn thể gia tộc họ Lý.

Còn về tiểu thiếu gia Lý Đới thì ngoài phần hương hỏa được giao, cũng đương nhiên nhận được phần thừa kế riêng, gồm tiền, vàng và ruộng đất rất bộn bề, chính xác là nhiều nhất so với phần thừa kế của tất cả anh chị mình. Nhưng ông con út này đã nhanh chóng tiêu phá cạn kiệt số tài sản khổng lồ của mình, chủ yếu bởi tật mê cờ bạc.

Đó là chưa nói đến cốt cách đầy bệnh hoạn cả xác lẫn hồn của vị công tử con út nhà phú hào, phong lưu rất mực, ăn chơi khét tiếng này. Rốt cuộc cậu ta tránh không khỏi bệnh lao phổi, nhưng trầm trọng, dai dẳng hơn là bệnh tiêm la.

Tao chơi biết bao nhiêu con mà nói, từ gái nhà đàng hoàng cho tới gái điếm, làm sao tao nhớ nỗi là con nào lây bịnh cho tao?”. Có lần, trong một cơn say bí tỉ, cậu út Mười đã thố lộ, suy đoán rằng mình đã bị lây bệnh phong tình vào một đêm cuồng nhiệt, trụy lạc tại chính trong nhà từ đường họ Lý chứ không phải ở một phòng ngủ, khách sạn nào đó bên phố.

Lần đó, sặc sụa hơi men, thả mặc khoái cảm, cậu công tử quen thói ném tiền qua cửa sổ, đã bốc đồng tung ra một số ngân lượng rất lớn, gạ gẫm một cô đào hát ngủ với mình. Đó là cô đào võ tên là Long Nga, thanh sắc vẹn toàn, nổi tiếng từ vai Lữ Bố trong một vở tuồng kinh điển trong nghệ thuật hát bội là “Phụng Nghi Đình”. Ngôi sao sân khấu sáng chói này theo một gánh hát nổi danh đất Sài Thành, và vào một lần gánh hát được nhà ông bá hộ mướn diễn trong một dịp lễ hội khai mùa lưới đăng tại làng Kim Bông, cô gặp gỡ tiểu thiếu gia họ Lý lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất trong đời. Trong một đêm oan khiên, ngắn ngủi, cô đào đầy hương sắc – niềm ao ước của bao khách hào hoa – đã bước từ vùng ánh sáng choáng ngợp của sân khấu vào bóng tối mê muội trên giường ngủ của gã công tử tỉnh lẽ vừa thô bỉ vừa bệnh hoạn…

Chừng vài năm sau đó, đến lượt mình, tiểu thiếu gia đời thứ hai tộc họ Lý, ông Lý Đới, cũng giống y cha mình vào lúc hấp hối, là chẳng có gì nhiều để trối trăn, ký thác cho lâm ly, bi đát với bốn đứa con chính thức của ông.

Dĩ nhiên không tính tới một nhân vật vắng mặt là đại thiếu gia đời thứ ba tộc họ Lý, vì cậu con trai trưởng này của ông Lý Đới đã tử trận sau thời gian đi quân dịch ở Sài Gòn rồi ra đơn vị tác chiến ở miền Tây, cũng như không thể tính tới những đứa con rơi con rớt, không hề được nhìn nhận nào đó của ông Lý Đới.

Vậy thì của hương hỏa đương nhiên giao cho cậu trai kế là Lý Thao – tiểu thiếu gia đời thứ ba tộc họ Lý. Tình hình người thủ từ đường họ Lý kỳ này còn thảm não hơn cả cha mình khi ông Lý Đới không hề còn chút tài sản riêng nào mà để lại cho con cái. Tệ hơn, trước khi tiếp nhận cái gia sản trống rỗng, cậu Lý Thao trước đó vốn cũng chỉ hoàn toàn sống nhờ vào cha mẹ nên không hề kịp tạo ra chút của nã riêng tây nào. Nhưng dù rất nghèo túng, cậu cũng bó tay, không dám đụng gì tới phần hương hỏa. Theo tập tục, cậu chỉ được phép khai thác vườn dừa cả trăm gốc trong đất hương hỏa để có tiền lo nhang khói, cúng kiếng cho tổ đường, ngoài ra thì cậu không được phép bán dù chỉ một tấc đất hương hỏa để chi xài, kể cả trường hợp gặp mùa dừa èo ọt, mất giá, tiền bán dừa không đủ cho việc cúng kiếng chung trong tộc họ.

Rồi lần lượt những thiếu gia các nhánh, các đời thuộc đại tộc họ Lý cũng đi theo tổ tiên. Riêng Lý Thao, mãi đến sau biến cố tháng 4/1975 mới qua đời, cũng vì bệnh lao phổi như cha mình.

Chính ra, bộ phim gia đình nhiều tập kiểu Hồng Công về dòng họ Lý giàu nhất làng Kim Bông, giàu nổi tiếng đất Khánh Hòa, coi như đã kết thúc sớm hơn nhiều, với cảnh Lý Thao, tiểu thiếu gia đời thứ ba, đành buông bỏ gia phong đầy danh giá mà lo kiếm sống với cái nghề chạy xe ôm bần dân, vất vả.

Lý Thao chết, cũng giống như kiểu chết của cha mình, làm gì có chuyện màu mè lập di chúc giao lại một cách cụ thể, rành mạch của hương hỏa cho đứa nào trong số bốn con trai của ông, tức đời thứ tư của họ Lý. Cả họ ngầm hiểu người thừa kế là Lý Đoàn, với danh xưng đơn giản là con trai trưởng chứ không còn là đại thiếu gia gì nữa vì như đã nói, bộ phim cổ trang về gia phong họ Lý đã kết thúc xong xuôi hết rồi.

Lúc cha mất, Lý Đoàn cũng chẳng mừng rỡ, thú vị gì về cái gọi là nhiệm vụ thừa tự hương hỏa. Chỉ là căn nhà cổ rộng mênh mông nhưng quá cũ kỹ, quá nhiều bóng tối. Gian nhà thờ – niềm hãnh diện của loại nhà từ đường – thường xuyên đóng kín ba ô cửa phía trước, như muốn che kín những bàn ghế, tủ thờ khảm ốc xa cừ quí giá nhưng không thể được đem cầm, đem bán. Phía sau của nhà thờ chỉ có những căn buồng trống trơn, lạnh lẽo, vừa đủ cho mấy gia đình nhỏ sống chen chúc, âm thầm. Còn bên ngoài chỉ là mảnh vườn dừa xơ xác mà hằng ngày, mấy đàn ông trong nhà không thể ngó ngàng gì tới vì còn bận chạy qua phố Nha Trang kiếm ăn, nuôi vợ con bằng nghề phụ hồ hay chạy xe ôm.

Cứ sắp đến những ngày giỗ hằng năm là cả nhà rầu lo. Chén bát xưa để lại thì có dư để dọn, đãi cho cả trăm người, nhưng… Tiền đâu để lo kỳ giỗ tới đây? Hưởng của hương hỏa mà không lo cúng quãy coi cho được thì bị họ hàng làng xóm nói chết đi, mấy chú có thấy không? Cậu Đoàn thường rầu rĩ, thở than với các em mình.

Đám con cái của ba bà chị ông Lý Thao, ngụ trong mấy căn nhà nhỏ tối, lụp xụp ngoài rìa đất hương hỏa, cũng không khá giả gì hơn. Mấy cậu trai này cũng chạy xe ôm hay đi làm thợ hồ, phụ hồ, chung chỗ làm với đám em họ của mình.

Có một anh còn làm một nghề là lạ. Là hậu duệ của tộc họ Lý có vườn dừa bát ngát ở đất làng Kim Bông, nhưng bản thân cậu ta lại không hề có chút đất riêng nào để có thể trồng dừa mà bẻ trái, nên ngày ngày anh chàng phải choàng một cuộn dây thừng qua cổ, đạp xe qua phố Nha Trang, đến nhà ai có trồng dừa thì gạ mua, rồi trèo lên cây chặt buồng, bẻ trái đem bán lại, kiếm chút lời.

Phép lạ chợt xảy ra. Chỉ nhờ canh me, tức rình chực từ bao đêm, ngày chứ không hề có cây vàng nào mua chỗ, một đêm nọ cậu Đoàn nhà họ Lý đã lọt xuống một chiếc ghe vượt biên ở Cam Ranh. Nhờ biển lặng sóng yên, chiếc ghe tiến thẳng ra biển một cách suôn sẻ…

(CÒN TIẾP)

Advertisements

Responses

  1. Các bạn Les Lauriers mến, truyện kỳ ảo trên sẽ được post tổng cộng 27 kỳ vào các ngày chủ nhật. Rất mong được các bạn thẳng thắn cho biết ý kiến về mọi thứ (cốt truyện, văn phong, ngôn từ diễn đạt…) của tập truyện mỏng này. Tác giả cám ơn lắm lắm.

  2. Hấp dẫn ! Hấp dẫn! Đang chờ kỳ tiếp cua anh Pham Nga ! 😆


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

%d bloggers like this: