Đăng bởi: BBT | Tháng Tám 31, 2018

Người Thế Hồn…Kỳ 21.Vừa Đươc Cứu Mạng, Ông Lý Ân Lại Phỉnh Gạt Bà Địa Mẫu



Truyện kỳ ảo PhamNga

NGƯỜI THẾ HỒN CHO THẦN LINH

<<Bởi Sự Nở Rộ Xum Xuê Các Giáo Phái Mới – Bất Kể Là Tà Giáo Hay Chính Giáo- Và Những Cải Cách Phải Có Nơi Những Tôn Giáo Truyền Thống, Đời Sống Tâm Linh Của Con Người Hiện Đại Trở Thành Một Bàn Tiệc Được Liên Tục Đổi Món, Bỏ Món Cũ Đã Lạt Lẽo, Thay Món MớiÍt Ra Cũng Màu Mè Hơn>>

 

Kỳ 21.Vừa Đươc Cứu Mạng, Ông Lý Ân Lại Phỉnh Gạt Bà Địa Mẫu

Trên đường từ Sài Gòn trở về Nha Trang, một đoàn xe gạo bốn chiếc của ông Bảy Ân đã bị quân du kích chận bắt và kè vào mật khu Tô Hạp trên núi Đồng Bò, chỉ cách thị xã Nha Trang vài chục cây số. Chỉ vừa nghe bọn tài xế được thả chạy về khẩn báo, ông Bảy lập tức tính toán kế hoạch đi chuộc lại mớ tài sản của mình.

Tờ mờ sáng, ông Bảy bỏ quốc lộ, theo đường mòn đi vào núi. Úp mở, dò hỏi vài người dân sống trong vùng, rốt cuộc ông cũng tìm được căn cứ của quân du kích. Trước mặt một tay chỉ huy, ông lấy trong túi ra một tấm ảnh rất cũ, đã ngã màu vàng ố nhưng cũng còn đủ hình nét của một thiếu nữ  mặc áo bà bà đen và quấn khăn rằn nơi cổ. Đó là cô Linh, đứa em út của ông, hoạt động trong thời kỳ Việt Minh cai quản vùng đất Khánh Hòa. Ông Bảy kể lại rất chi tiết cho người chỉ huy du kích nghe hoàn cảnh cô Linh bị mật thám Pháp bắt và xử bắn. Nhờ vậy, lời đề nghị chuộc lại bốn xe gạo được quân du kích chấp nhận, với điều kiện ông Bảy phải nộp thuế, như một kiểu ủng hộ cách mạng. Đúng như ông Bảy đoán trước, số tiền thuế đóng cho những người trong mật khu là khá lớn nhưng không hề gì vì vừa vặn với số bạc ông kỹ lưỡng đem theo trong người.

Nộp tiền xong, ông Bảy quày quả theo đường mòn xuống núi. Chưa xa căn cứ quân du kích bao nhiêu thì đột nhiên, trên trời xuất hiện hai chiếc oanh tạc cơ. Súng lớn từ sườn núi bắn lên, rốc-kết từ phi cơ lao xuống. Kinh hoàng tột độ, ông Bảy núp vào một gộp đá. Một quả rốc-kết nổ rất gần ông, cây cối ngã rạp và bụi đất tung mù. Chợt nhớ tới Địa Mẫu, ông lấy lại bình tỉnh, thành tâm khấn cầu độ trì cho tai qua nạn khỏi. Thế là đột nhiên, chiếc phi cơ đổi hướng, bay thẳng lên phía đỉnh núi… Hết sức thận trọng, ông rời gộp đá, lom khom chạy xuống hết sườn núi, tìm lại con đường mòn, cắt đồng trở ra quốc lộ.

Ở một quán nước tồi tàn bên vệ đường, mấy người  tài xế và phụ xế tròn mắt nhìn ông Bảy bước vào quán, trên người còn dính đầy đất cát. Mới đây, khi thấy phi cơ oanh tạc sườn núi, tiếng súng và rốc-kết nổ vang dội, họ không thể nào đoán được số phận của ông chủ mình. Thản nhiên gạt mồ hôi trán, ông Bảy trình bày cặn kẽ cho đám người làm của mình biết cách đi lên núi, ra dấu hiệu thế nào để quân du kích cho phép vào căn cứ. Ý định của ông Bảy là chỉ để cho bọn tài xế tự mò lên sườn núi, lái xe gạo về.  Bọn người giúp việc từ chối, nại cớ nguy hiểm dù cho lúc này, hai chiếc oanh tạc cơ đã bay đi đâu mất dạng, và dù ông chủ hứa thưởng nhiều tiền. Ông Bảy đành chỉ huy, dẫn đường cho  đoàn người đi chuộc mấy chiếc xe gạo. Suốt trên đường đi bộ lên núi và ngồi xe xuống núi, ông Bảy liên tục cầu Địa Mẫu phò hộ. Đến chiều tối, bốn chiếc xe gạo – có vơi mất mấy chục bao – đã xuống hàng trước tiệm Lý Tài.

Những ngày sau đó, khi kể lại diễn tiến sự việc cho vợ con nghe, dĩ nhiên ông không tiết lộ là mình đã không ngừng cầu giúp đỡ. Nhưng khi riêng một mình vào phòng thờ đã đóng kín cửa, trước mặt tượng Quan Âm Bồ Tát, ông lầm rầm nói ra thành tiếng, đại để là chân thành đội ơn , Mẫu Mẹ đã cứu giúp mình.

Ở một không gian mơ hồ sương khói nào đó, Địa Mẫu tươi cười, gật đầu tiếp nhận lời cảm tạ  nồng nhiệt, đầy xúc động của “nghĩa tử” Lý Ân. Có điều là về sự thật bên trong, không rõ có phải do quyền năng của hay không, hay chỉ cho ngẫu nhiên, mà hai chiếc oanh tạc cơ đã ngừng bắn rốc-kết về phía ông Bảy.

Tỏ ra đẹp dạ, hài lòng về cung cách hiếu kính của ông Bảy, nhưng tiếc thay, thời gian gần đây, Địa Mẫu lại có ý không bằng lòng về hành tung của bà Lụa. Đúng ra, khi ông bà Bảy khởi nghiệp làm huyện, Bà đã hiển linh trong giấc ngủ ông Bảy, dạy rằng không nên theo đuổi một công việc làm ăn đen tối, tội lỗi và phạm pháp như thế. Ông Bảy đã biện minh:

“Lạy Mẹ, con cũng hiểu làm nghề cờ bạc thì không tốt. Khổ nỗi, con Lụa, vợ con thì dốt nát không thể nào phụ giúp con công việc buôn bán gạo….”

“ Thì nó cứ lo việc nội trợ, nuôi dạy con cái trong nhà cho tốt là được rồi?”, nữ thần  nóng nảy ngắt lời ông Bảy.

“Thưa Mẹ, lại kẹt một nỗi là con Lụa nó quá thương yêu con, một lòng một dạ chỉ muốn hầu hạ, giúp đỡ con.Tự thấy mình vô dụng đối với gánh nặng làm ăn kiếm sống của chồng, nhiều đêm con vợ con nó thức trắng, khóc thâu đêm rất thảm thương. Con đã rất đau lòng, không biết làm sao cho vợ con hết khổ tâm, nhất là lý do nó khổ chỉ vì không phò giúp gì được cho con. Lạy Mẹ, Mẹ có chê con yếu đuối thì con cũng xin chịu, không thể nào con chịu nỗi khi phụ nữ, lại là bạn đời tình sâu nghĩa nặng của mình, phải rơi lệ, khổ đau!”

Hình như nữ thần đã dịu đi cơn bất mãn, cảm động trước mẫu người đàn ông nhân hậu, không hề dửng dưng trước những giọt nước mắt của phụ nữ – những chị em yếu đuối dưới trần gian, dù gì cũng cùng phái với nữ thần. Do đó, Địa Mẫu đã dịu cơn nóng giận, mở rộng lòng bao dung nghe ông Bảy tiếp tục phân bày:

“Thế rồi con vợ con năn nỉ, đề nghị cho nó làm đề. Bằng công việc này thì không cần chữ nghĩa, nó cũng kiếm được chút đỉnh qua ngày. Khi nào kiếm được kha khá thì vợ con nguyện sẽ liên tục lên chùa làm công đức hay bố thí cho người nghèo. Vợ con cũng xuất thân con nhà nghèo khổ mà! Con thì quá bận rộn công việc gạo thóc nên đồng ý cho vợ con lãnh làm đề, nho nhỏ thôi, con không dính dáng gì tới, miễn là nó biết làm công quả, giúp dân nghèo là được.”

Cuối cùng thì Địa Mẫu thăng, tạm chấp nhận cho cái vụ nói thiệt gọn là ghi-đề-làm-việc-thiện của vợ ông Bảy. Có lúc, dù không hoàn toàn tán đồng một hành vi thiếu trong sáng, thiếu thiện lành của gã người phàm mà mình nhận làm nghĩa tử, nhưng nữ thần cũng đành châm chước, bỏ qua.

Sâu xa thì các thần linh cổ xưa không còn vai trò độc quyền, ưu thắng trong trần gian thời hiện đại. Trước những thành tựu của văn hóa, khoa học, kỹ thuật; đặc biệt là sự xuất hiện của các ngành tâm lý học, kinh tế học, chính trị học, tương lai học…, thêm cách đặt vấn đề mới mẻ –  chẳng hạn kiểu “hậu hiện đại”, “tân hình thức” – trong văn học – nghệ thuật và triết học cùng sự nở rộ xum xuê các giáo phái mới – bất kể là tà giáo hay chính giáo- và những cải cách phải có nơi những tôn giáo truyền thống, đời sống tâm linh của con người hiện đại trở thành một bàn tiệc được liên tục đổi món, bỏ món cũ đã lạt lẽo, thay món mới ít ra cũng màu mè hơn. Do đó, cái sân khấu lâu đời, phông màn và tuồng tích đã cũ mèm, vốn dành cho loại, hạng thần linh đa tạp và cổ xưa, chuyên trình diễn tứ thời dài hạn, thì càng ngày càng ít khán giả.

Để níu kéo sự tồn tại của thần quyền, phải nói rằng các vị thần ngày càng dễ tánh, xuề xòa  khi giao dịch, tiếp xúc với phàm nhân. Tệ bạc hơn, như ca sĩ cần có khán giả, do sự ràng buộc với đối tượng mà mình rất cần cho nhu cầu thể hiện chính mình, những thần Biển, thần Đất trong truyện này đã có lúc thả lỏng kỷ cương, đánh mất uy nghiêm. Dù có thấu thị, phát hiện được trước đi nữa, nhiều lúc các thần cũng đành ngó lơ về những mầm mống dẫn đến lỗi lầm, sai phạm không chóng thì chầy nơi lũ người phàm được bảo trợ.

Về phần con người phàm trần đang bị thần linh soi rọi, nghi ngờ là bà Lụa, đúng là có vấn đề.

Thỉnh thoảng bà huyện cũng nhai trầu nên mồm miệng bà đỏ thắm màu máu. Đó! Tao đã nói mà! Đâu có sai! Dù không công khai, chính thức đánh cá, đánh cuộc gì với những tay chơi khác, rốt cuộc bà Lụa cũng thắng – theo nghĩa dự đoán đúng y chang – những vụ con bạc bỏ xứ trốn nợ, hay tự vẫn, tức từ bỏ cả cuộc sống. Nhưng đây không phải là phán quyết lạnh lẽo của tử  thần đem cấy vào đôi môi mỏng dính của một người đàn bà độc mồm, độc miệng, mà chỉ là kiểu đánh đố do  máu cờ bạc, trò giải trí cao trào nơi một tay cờ bạc siêu hạng là bà Lụa.

Biết được chuyện một con bạc khánh tận mới tự thắt cổ chết, bà huyện Bảy còn tủm tỉm cười, không rõ là thương hại hay cười chê…

“Tao nói thiệt, xưa nay bọn mê cờ bạc, mê số đề thì chỉ có chết. Dù chơi theo kiều “dương”, cầu cho con số may mắn xuất hiện như dân đánh đề, hay ngược lại, kiểu “âm” là cầu cho con số đừng ra, như mấy đứa bao đề, thì rốt cuộc không đứa nào sống nỗi. Còn nói chuyện lâu lâu có trúng đề, trúng lớn hay trúng nhỏ bất kỳ, thì cũng không thể  khấm khá, không thể làm giàu. Mấy đứa trúng đề đừng nên mua sắm nhà cửa, xe cộ, bàn tủ… làm gì. Cũng đừng ỷ có số tiền bất ngờ mà bày đặt sửa sang, xây mộ cho cha mẹ, ông bà để báo hiếu. Mấy đứa trúng đề chỉ nên… kêu thợ dựng hàng rào sắt xung quanh mấy cái mộ đất của cha mẹ là được rồi. Cũng là cách xài tiền trúng đề khôn ngoan nhứt. Tại sao hử?  Hễ có trúng thì càng đánh lớn, rồi thua lớn, chẳng bao lâu thì bây lại trở lại thành đứa  tàn mạt vì cờ bạc. Đã là con bạc khát nước thì có thứ gì trong nhà cũng đem bán để có tiền ghi đề. Thậm chí cả mồ mã ông bà mới hồi nào xây bê-tông cốt sắt mà có đứa còn dám đập bỏ, lấy sắt đem bán. Chỉ có hàng rào sắt, hàn dính chùm cứng ngắt thì may ra…, vì ngại nặng công phá dở, bây mới tha cho….”

Cái triết lý quái đãn của bà huyện như trên về thảm cảnh, thảm kịch của dân mê cờ bạc, mê số đề, nghe thật tàn nhẫn và lạnh lùng đến rợn người. Tàn nhẫn nhất là ở chỗ bà nhắc tới chuyện ông bà, cha mẹ chết đã lâu đời cũng không yên thân đối với thứ con cháu mê bài bạc. Lạnh lùng vì đây là nhận định, là kinh nghiệm của một người tổ chức cho người khác bài bạc để trục lợi mà khi là con bạc, bà đã không hề bị cùng mạt như điều bà mô tả nơi người khác. Bà đã được mua rẻ mọi kinh nghiệm sâu xa về cuộc sống cờ bạc mà không hề bị một thương tổn đáng kể nào.

Trong thế giới cờ bạc, ai có chết thì cứ tự nhiên, thong thả mà chết chứ bà huyện thì vẫn sống khỏe – vẫn làm giàu nhờ cờ bạc. Dù cái triết lý siêu bi quan kia có chút giá trị đúng/sai, thâm thúy/nông cạn nào đó, và dù có bị người đời chê trách là phát biểu phách lối, ngạo mạn, bất kỳ trường hợp nào bà Bảy cũng đều đã và đang hưởng lợi trong bài bạc – mảng sinh hoạt hưởng thụ/giải khuây rất sinh động, rất máu me, nói gọn lại là rất “con người” ở cõi dương trần cát bụi này.

(Còn tiếp)

PN

*Đón xem:

Kỳ 22. Bà Địa Mẫu trừng trị họ Lý, hại tàn mạt sáu đứa con gái, lấy mạng bà Lụa.

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Chuyên mục

%d bloggers like this: